Thứ Bảy, 26 tháng 10, 2013

PHẦN BA
CÂU CHUYỆN ĐƯỢC KỂ BỞI WALTER HARTRIGHT

9
Ngôi mộ đá

Vào ngày 13 tháng mười năm 1850, tôi rời khỏi những khu rừng già hoang sơ ở trung tâm Nam Mỹ quay về lại nước Anh. Tôi đã thoát khỏi cái chết bởi bệnh tật, chiến tranh, chết đuối và hy vọng những trải nghiệm đó sẽ giúp tôi mạnh mẽ để đối mặt với tương lai – một tương lai không có Laura Fairlie – tôi vẫn nhớ em là Laura và không thể nghĩ về em với cái tên của chồng em. Cuộc gặp mặt rất vui, mặc dầu chẳng bao lâu tôi lại quay về với nỗi buồn.
Việc đầu tiên tôi làm là về thăm mẹ và chị tôi ở ngôi nhà tại Hampsted. Mẹ tôi không giữ điều gì trong lòng và khi tôi phải nhìn vào ánh mắt thương sót của bà là điều tôi sợ nhất. Mọi chuyện chẳng bao lâu cũng đã kể hết. Tôi cố gắng hết sức vất vả tránh không để nỗi buồn làm hỏng niềm vui ngày trở về của mẹ và chị nhưng đến ngày thứ ba tôi phải đi đâu đó một mình một lúc.

“ Để con đi tới Limmeridge nhé mẹ”, tôi nài nỉ mẹ “Con sẽ khá hơn khi thấy mộ cô ấy mẹ à”.

Vào một chiều thu ấm áp, khi tôi đến trạm xe, tôi thả bộ trên con đường thân quen, nhìn những mảnh bức tường trắng cao của ngôi nhà Lummeridge, trong nghĩa trang, tôi đã thấy ngôi mộ và quỳ xuống bên mộ, nhắm nghiền mắt lại.
“Ôi, em yêu dấu, tình yêu của tôi, em yêu, em thân yêu”.
Hàng giờ trôi qua và ánh hoàng hôn đổ bóng xuống nơi em yên giấc nghìn thu. Tôi đã mất hết cảm nhận về thời gian khi quỳ gối nơi đây. Rồi trong yên lặng, tôi nghe thấy tiếng chân bước nhẹ trên cỏ.
Tôi nhìn lên.
Phía bên kia, đứng cùng nhau bên bức tường nghĩa trang là hai người đàn bà đeo mạng che kín mặt. Họ nhìn về phía ngôi mộ, nhìn về phía tôi.
Hai người.
Họ tiến gần hơn và ngừng lại. Một trong hai người nhấc mạng che lên và dù trong bóng hoàng hôn chập choạng tôi thấy rõ khuôn mặt của Marian Halcombe. Một khuôn đã thay đổi. Gầy và tái xanh, ngập tràn nỗi đau và sợ hãi.
 Người đàn bà che mạng chậm chạp tiến về phía tôi. Marian khuỵu gối và thều thào “Chúa ơi, xin giúp anh ấy, xin giúp anh ấy, Chúa ơi”.
Người đan bà đeo mạng tiếp tục chậm chạp và lặng lẽ đi tới. Tôi nhìn vào cô ta, trong khỏang khắc ấy, nhìn vào cô ta chứ không ai khác. Chính cô là người đã chiếm giữ linh hồn và thể xác tôi. Cô dừng bước bên ngôi mộ đá và rồi chúng tôi đứng đối mặt bên nhau, chính giữa là ngôi mộ đá.
“Chúa ơi, hãy cứu giúp anh ấy, cứu giúp anh ấy”.
Người đàn bà giở bỏ mạng che mặt.
Trong ký ức yêu thương của tôi, Laura, Glyde phu nhân...đang nhìn tôi đứng bên mộ nàng.
Laura, Glyde phu nhân đang đứng bên ngôi mộ.

***

Cuộc sống đột nhiên thay đổi. Tương lai mới ngay trước mắt tôi như thể ánh dương soi sáng đỉnh núi. Tôi lìa bỏ câu chuyện trong bóng tịch lặng của nghĩa trang và một tuần sau bắt đầu lại trong đường phố náo nhiệt ồn ào ở London.
Tôi thuê phòng dưới một cái tên khác. Marian và Laura dùng tên cũ và được khai là chị, em gái. Tôi kiếm sống bằng cách vẽ cho những tạp chí bình dân. Chúng tôi không thuê người làm. Chị Marian Halcombe chính tay lo toan mọi việc nội trợ. Marian và tôi biết đối với những người bạn của cô Anne Catherick điên loạn (không rõ địa chỉ) những người đã xác định sai lầm về nhận dạng phu nhân Glyde thì Laura, phu nhân Glyde, đã yên nghỉ ở bên kia thế giới, đã chết rồi. Đã chết đối với ông chú của cô, người đã từ chối nhận ra cô ấy. Đã chết đối với những luật sư đã chuyển giao tài sản của nàng cho ông chú và bà dì.
Nhưng với Marian và tôi thì nàng vẫn sống! không một xu dính túi và thay đổi một cách đáng buồn, sắc đẹp phai tàn, trí nhớ lẫn lộn nhưng vẫn còn sống cùng với người thầy dạy vẽ nghèo nàn để đấu tranh trong cuộc chiến của nàng, để chiến thắng trong việc đưa nàng trở về với thế giới hiện tại. Cuối cùng nàng đã là của tôi – của tôi để giúp đỡ, chiến đấu và bảo vệ nàng. Và của tôi để yêu nàng.

10
Giải cứu

Cơ hội đầu tiên chúng tôi có, Marian đã kể hết mọi chuyện đã xảy ra đối với cô và Laura. Đoạn khó khăn nhất là sau khi cô quay trở về Lummeridge.
“Tôi rất thất vọng, Walter ạ”, cô ấy kể. “Cuộc điều tra của ông Kyrle kết thúc và chẳng đưa ra được điều gi cả, ông ấy nói Ông Farlie chẳng giúp ích được gì – tôi nghe nói ông ấy thậm chí cũng chẳng rời khỏi phòng để dự tang lễ nữa! nhưng ông ấy có đưa cho tôi xem là thư của bá tước Fosco, trong đó có tin về Anne Catherick. Ông bá tước nói rằng đã kiếm thấy Anne Catherick và đưa cô ta trở lại Nhà thương điên, nơi mà cô ta đã đào thoát. Nhưng vì thù ghét và muốn gây phiền toái cho ông Percival nên cô ta đang phản bác rằng cô ta hoàn toàn không phải là Anne Catherick mà là Glyde phu nhân.. Ông bá tước có lưu ý cho ông Fairlie là cô ta có thể sẽ trốn thoát lần nữa, cô ta có thể sẽ cố loan báo cho mọi thành viên trong gia đình nhà Glyde.
Tôi chưa khỏe hẳn để làm được gì khoảng một tháng sau khi trở lại Lummeridge nhưng khi tôi thấy đã khá hơn, tôi quyết định tự mình điều tra lấy. Trước tiên, tôi lập kế hoạch tới thăm Nhà thương điên ở London gặp cô gái khốn khổ Anne Catherick để tìm hiểu vì sao cô ta lại khiếu nại rằng mình là Laura. Tôi biết địa chỉ của Nhà thương vì anh đã cho tôi từ những tháng trước".
 “Hãy tưởng tượng tôi đã sốc ra sao khi tôi thấy cô em gái đã mất của tôi đang đi về phía tôi trong khu vườn đó. Chúng tôi chạy vội tới và ôm choàng lấy nhau, không nói nên lời. Các nhân viên của viện nhìn chúng tôi một cách lạ lùng làm sao!”.
“Tôi nghĩ là tôi biết cảm giác của cô như thế nào”, tôi nói “Tôi sẽ không bao giờ quên nghĩa trang ở Limmerridge...nhưng xin vui lòng kể tôi nghe, làm sao cô đem Laura thoát khỏi Nhà thương điên vậy?”.
“Hối lộ thôi, Walter. Tôi không muốn liều lĩnh để đấu tranh hợp pháp nữa và sẽ dính líu đến mọi sự trì trệ, vì thế tôi đã thuyết phục cô nhân viên chăm sóc rằng đá có sự lầm lẫn khủng khiếp, cô ta sẽ làm một việc rất tốt nếu giúp Anne Catherick trốn thoát. Và tôi biếu cô ấy 400 bảng. Kế hoạch đã thực hiện rất êm ái và đầu chiều ngày hôm sau Laura và tôi lên tàu đi Cumberland”.
 “Còn Laura?”, tôi hỏi “Thực sự thì đã xảy ra những gì vào cái ngày cô rời khỏi Blackwater Park tới London?”.
Marian thở dài. “Ôi Walter, chẳng có gì rõ ràng cả. Trí nhớ của Laura tội nghiệp hiện nay đã lẫn lộn hết cả đến nỗi những biến cố trong trí nhớ của cô cũng rất không đáng tin cậy. Cô không thể nhớ ngay cả ngày cô rời khỏi Blackwater. Toàn bộ những gì cô có thể kể cho tôi như thế này. Ông bá tước đón cô ở nhà ga và nói rằng tôi vẫn đang ở London và sẽ đưa tôi gặp cô ngay. Cô không còn nhớ xe đưa cô đến đâu nhưng  nhớ rõ không phải là tới nhà ở đường St John’s Wood. Cô được đưa đến một căn nhà ở con đường hẹp, tại  đây có nhiều người lui tới và hỏi cô nhiều câu hỏi mà cô chẳng hiểu gì cả. Vào lúc này ông bá tước lại nói là tôi bị bệnh nặng; cô rất hoảng sợ khi nghe tin này và gần như ngất đi. Rồi có ai đó cho cô ly nước mà cô nói là có vị rất kỳ lạ - và sau đó cô mất hết nhận thức”.
 “Laura khốn khổ, tội nghiệp”, tôi thì thầm.

***

Âm mưu ám hại Laura giờ đã rõ ràng. Anne Catherick đã được đưa vào nhà ông bá tước với tư cách là phu nhân Glyde và phu nhân Glyde lại là người đàn bà chết trong Nhà thương điên. Và cũng rõ ràng là cả ba chúng tôi đừng trông mong gì lòng thương hại của ông bá tước và ông Percival, những kẻ âm mưu chiếm đoạt 30.000 bảng. Bọn họ sẽ làm mọi việc trong khả năng quyền lực để ngăn ngừa tội ác bị khám phá và săn lùng nạn nhân của họ để chia cắt nàng và những bạn của nàng – là Marian và chính tôi. Đó là lý do tại sao tội chọn một nơi đông đúc, nghèo nàn ở London để sống. Ở một nơi luôn có kẻ ra, người vào như thế dễ ẩn náu hơn.
Cuộc sống chúng tôi nhanh chóng đi vào ổn định – làm việc, theo dõi kẻ thù và chăm sóc Laura, chúng tôi luôn bên em với tình yêu dịu dàng, che chở, giúp em chầm chậm nhưng đều đặn phục hồi thăng bằng trí óc và tự tin cho em.
Trong khi đó, Marian và tôi bắt đầu cuộc chiến. Chúng tôi nghiên cứu bản lời khai của nhân chứng do ông Kyrle đưa cho – gồm của bác sỹ, gia nhân và đầu bếp trong nhà ông Fosco. Tôi thu được một bản giấy chứng tử của phu nhân Glyde. Marian đã viết thư hỏi Michelson và được trả lời rằng bà ta không nhớ chính xác ngày Laura khởi hành từ Blackwater Park. Bà ta cũng cũng chẳng nhớ lá thư báo về cái chết của Laura, không ghi ngày, tháng, gửi đến bà Fosco.
Tôi cũng sắp xếp tới gặp ông Kyrle để nhờ ông giúp đỡ. Sau khi nghe lời câu chuyện dài của tôi, ông luật sư lắc đầu.
“Theo quan điểm về pháp luật của tôi, ông Hartrick ạ, việc như thế này ông sẽ không thắng ở trước tòa được đâu. Tất nhiên là tôi chấp nhận rằng nhân thân phu nhân Glyde, người mà ông và cô Halcome chứng minh là đang còn sống là sự thật. Nhưng không có bằng chứng gì cả. Nếu anh cung cấp cho tôi chứng cớ ngày tháng trên giấy chứng tử sớm hơn ngày phu nhân Glyde đi tới London thì anh có thể khởi kiện được”.
Khi tôi rời khỏi, ông ta đưa cho tôi lá thư ông đã nhận để chuyển cho Marian và nói với tôi, như để trả lời câu hỏi của tôi, ông Percival đã quay trở lại London.
Ra ngoài đường, tôi nhanh chóng nhận ra có hai gã đàn ông theo sau tôi và quá trễ để nhận ra rằng thám tử của ông bá tước đã rình mò trước văn phòng luật sư, trông chờ tôi hoặc Marian sẽ tới đây. Tôi đi về nhà theo con đường rất dài và đã làm bọn chúng bị mất dấu nhưng việc này cành báo tôi phải cẩn thận hơn.
Marian rất lo lắng khi tôi kể cho cô nghe về hai gã đàn ông. Sau đó tôi đưa cho cô lá thư. Cô nhận ra ngay tuồng chữ viết.
“Đó là nét chữ của ông Fosco”. Lá thư như sau:
"Người phụ nữ đáng phục và thân mến, đừng sợ nhé! Ra giá đi, cùng với người bạn đồng hành dễ thương của cô, chẳng việc gì xảy ra cho cô đâu, Chẳng có thử thách nào cả, không một ai dọa dẫm đâu. Đừng, tôi xin cô, đừng tấn công tôi nhé. Nếu ông Hartrick trở lại London, đừng nói gì với anh ấy. Nếu anh ta ngáng đường tôi thì kể như anh ta không còn".
 “Walter!”, Marian nói, mắt cô ánh lên tức giận. “Nếu có lúc nào lòng nhân ái của anh khiến anh phải tha thứ một trong hai kẻ Percival và tên bá tước thì đừng bao giờ là tên bá tước nhé”.
“Tôi sẽ giữ lá thư này chờ đến khi thời cơ đến”, tôi nói “Nhưng ngày mai tôi sẽ đi Blackwater để cố gắng tìm ra ngày Laura đi đến London. Đó chính là điểm yếu của âm mưu của chúng”.
“Ý anh là chắc chắn Laura đã không rời khỏi London cho đến sau ngày ghi trên giấy báo tử?”.
“Tôi nghĩ chính xác là cô đã ra đi vào ngày 26 tháng bảy, Giám đốc Nhà thương điên nói là cô đã ở đấy vào ngày 27 tháng bảy. Tôi nghi ngại là liệu họ có đánh thuốc mê cô hơn một đêm không. Bà Bichelson cho biết là ông Percival đã ra đi cùng ngày với Laura. Tôi sẽ mọi người trong làng xem liệu họ có nhớ họ ra đi khi nào”.
“Và nếu thất bại?”.
“Nếu thất bại, Marian ạ, tôi sẽ buộc ông Percival phải thú nhận. Chúng ta có một vũ khí chống lại ông ta – bí mật của ông. Anne Catherick đã nói rằng nếu bí mật này bị lộ ra có thể làm tiêu đời ông ta. Tôi có y định tìm cho ra bí mật này. Người đàn bà mặc đồ trắng, dù đã yên ngủ trong mộ vẫn bên chúng ta và sẽ chỉ đường cho chúng ta”.

11
Cuộc điều tra

Câu chuyện về cuộc điều tra đầu tiên ở Hampshire vừa được kể. Không một ai ở làng Blackwater có thể nhớ chính xác ngày ông Percival ra đi. Ngay cả người làm vườn cũng chỉ có thể nói khoảng vào mười ngày cuối tháng bảy.
Vì vậy kế hoạch tiếp theo của tôi, tôi nói với cô Marian, trở về London để theo đuổi một điều bí mật. Tôi cần phải nói chuyện với mẹ của Anne Catherick nhưng trước tiên phải moi được chút gì từ bà Clements đã. Nhưng làm thế nào để tìm ra bà Clements?
Chúng tôi gặp may. Vợ của người nông dân biết địa chỉ và ghi lại cho chúng tôi. Nó ở ngay London, không xa chỗ chúng tôi và sáng hôm sau tôi gõ cửa nhà.
Bà Clements rất lo lắng muốn biết liệu tôi có tin tức gì về Anne không và rất buồn khi biết tôi chẳng có gì. Dù vậy, bà vẫn vui lòng kể tôi mọi điều bà biết.
 “Sau khi rời khỏi Limmeridge, thưa ông”, bà nói “Anne và tôi đi đến phía bắc nước Anh và đó là lúc Anne bắt đầu đau đớn do bệnh tim. Không lúc nào cô ấy khỏe nhưng cô cứ khăng khăng đi đến Hampshire bởi vì cô muốn nói chuyện với bà Glyde. Vì thế chúng tôi đến đây và ở lại ngôi làng gần Blackwater – không quá gần vì Anne rất sợ ông Percival.
“Mỗi khi Anne đi tới bờ hồ cố gắng nói chuyện với bà Glyde, tôi đều theo sau cô một khoảng cách. Nhưng những cuộc đi bộ này đã làm cô kiệt sức và bệnh trở lại, lần cuối cùng thì tôi đã đi đến hồ nơi cô gặp bà Glyde. Bà ta không đến thay vào đó là một người đàn ông to béo tới với một lá thư của cô ấy. Thư nói rằng chúng tôi nên trở về London ngay, ông Percival chắc chắn sẽ phát hiện ra chúng tôi nếu chúng tôi ở lâu hơn. Bà Lady Glyde sẽ tự đi tới London ngay và nếu chúng tôi cho biết địa chỉ, bà sẽ liên lạc với chúng tôi".
 “Nhưng rồi cô ấy không đến, phải không?”, tôi nói, tôi nghĩ làm sao mà một người sắc xảo như ông bá tước Fosco lại nói láo với người đàn bà tử tế như thế.
“Không, thưa ông. Tôi kiếm ra nơi tạm trú và gởi địa chỉ cho bà Glyde nhưng sau đó hai tuần chúng ta cũng chẳng nghe thấy gì cả. Rồi ngày nọ, có một quý bà ngồi trong xe gọi ra, bảo rằng bà ta tới từ chỗ bà Glyde, hiện đang ở tại khách sạn và đang muốn sắp xếp một cuộc gặp gỡ với cô Anne. Tỗi đồng ý đi với bà này để sắp xếp cuộc gắp, bỏ lại một mình Anne ở nhà trọ. Nhưng đó là một âm mưu thâm hiểm thưa ông, trên đường đi, bà ta dừng xe nói là phải chọn mua ít đồ trong cửa hàng và bảo tôi đợi một chút. Bà ta biến luôn thưa ông. Tôi đợi một lúc lâu và rồi vội vã quay về nhà – và thấy là Anne đã đi khỏi, như thể biến mất.
Tôi hỏi bà Clements miêu tả quý bà này và có vẻ đúng là bà Fosco. Thế là tôi đã rõ làm cách nào ông bá tước đã đưa được Anne tới London và tách được cô khỏi bà Clements.
“Tôi không thể nào tìm ra những gì đã xảy ra cho Anne”, bà Clements buồn rầu nói, “Tôi đã hỏi khắp nơi. Tôi viết cả thư hỏi mẹ cô nhưng bà ta cũng chẳng biết gì. Tôi nhớ Anne tội nghiệp lắm. Tôi coi nó như con gái tôi, ông thấy đấy”.
“Vâng, tôi chắc chắn với cô ta bà là một người mẹ tốt”, tôi nói “Người mẹ tốt hơn cả mẹ đẻ của cô”.
 “Điều đó không có gì là khó hiểu cả”, bà Clements nói “Bà Catherick là một phụ nữ khó tính. Bà dường như rất ghét trẻ con và hết sức hài lòng khi tôi mang nó đi. Một ngày nọ bà ta đón Anne về Limmeridge để ở với một đứa em gái và sau đó kéo Anne ra khỏi tay tôi. Tôi đã không thấy Anne nữa cho đến mãi khi nó trốn thoát khỏi Nhà thương điên – với sự giúp đỡ của ông. Rồi sau đó nó luôn nói về có điều bí mật gì đó của mẹ nó có thể làm tiêu tan ông Percival. Nhưng ông biết đó, thưa ông, tôi không nghĩ là Anne biết điều bí mật đó là gì. Nếu nó biết thì thể nào nó cũng đã kể cho tôi”.
Tôi cũng tự hỏi về điều đó, và giờ tôi cố lái cuộc trò chuyện quay về bà Catherick.
“Bà đã biết bà Catherick từ trước khi có Anne được sinh ra phải không?”.
 “Phải, khoảng chừng bốn tháng, chúng tôi là hàng xóm ở Welmingham. Ông bà Catherick đã kết hôn, ông Catherick làm thư ký cho nhà thờ Welmingham. Trước đó, bà Catherick là gia nhân ở một ngôi nhà lớn. Bà ấy là một người ích kỷ, vô lương tâm và đối xử với ông chồng tội nghiệp rất tệ. Trước đó một thời gian, có rất nhiều lời đồn đại về bà ta và một quý ông trẻ ở tại khách sạn gần đó. Ông Catherick đã từng kể với chồng tôi là ông phát hiện ra nhiều món quà đắt giá, nhẫn vàng và những thứ kiểu giống như thế trong ngăn kéo của bà vợ.
“Quý ông đó là ai vậy?”, tôi hỏi.
“Ông biết ông ấy mà, Anne thân yêu tội nghiệp cũng thế”.
Là ông Percival ư? Tim tôi bắt đầu đập nhanh hơn. Phải chăng tôi đang tiến sát đến điều bí bật?
“Đúng thế. Bố của ông ấy vừa mất ở nước ngoài và ông Percival đã đến vùng lân cận. Mọi người nghĩ rằng, ông thấy đấy, bà Catherick đã biết ông Percival từ trước khi lấy chồng và lấy ông Catherick để cứu vãn thanh danh thôi bởi vì …ông biết vì điều gì rồi.
Tuy nhiên, đêm nọ ông Catherick phát hiện bà vợ đang thầm thì gì đó với ông Percival ngoài phòng họp của nhà thờ. Họ đã choảng nhau và rồi ông Catherick bỏ đi khỏi làng và không bao giờ quay trở lại lần nào. Và bất chấp lời ra tiếng vào trong làng, bà Catherick vẫn ở lại làng. Bà ta nói chả có tội tình gì và chẳng ai lôi nổi bà ta đi đâu cả. Nhưng hầu hết mọi người nghĩ rằng tiền nong để sinh sống là của ông Percival đưa cho”.
Bí mật ngay ở đâu đây, nhưng ở nơi đâu? Ông Percival có phải là cha của Anne không thật là rất bí ẩn dầu rằng mọi người đều nghĩ thế. Không, có một điều bí ẩn khác nữa ở đâu đây.
“Bà nghĩ sao bà Clements?”.
“À, thưa ông, nếu ông xem xét về thời điểm và nơi chốn thì chắc chắn ông sẽ thấy rằng ông Catherick không phải là cha của Anne, Nhưng Anne cũng chẳng giống ông Percival và bà mẹ”.
Tôi tự hỏi về ngôi nhà nơi bà Catherick đã làm gia nhân. Có lẽ sắp tới tôi sẽ điều tra việc này.
 “Bà rất tử tế, bà Clements”, tôi nói “ bà trả lời mọi câu hỏi của tôi. Chỉ có yêu cầu cuối cùng này nữa thôi. Bà cho tôi xin địa chỉ của bà Catherick được không? Tôi đã tìm ra bí mật này rồi, và chỉ có bà ta có thể nói cho tôi thôi”.
Bà Clements cho tôi địa chỉ nhưng lắc đầu. “Cẩn thận nhé. Bà ta là người kinh khủng lắm. Ông không biết bà ta bằng tôi đâu”.
Quay về phòng, tôi báo cho Marian biết ý định sẽ đến Welmingham của tôi. Cô ấy rất không an tâm về kế hoạch này.
“Anh có chắc kế hoạch như thế là hay không, Walter? Ông Percival là một gã rất manh động đấy”. “Tôi lo cho chị và Laura hơn”, tôi đáp “Tôi rời khỏi London thì ông bá tước là kẻ thù của chị đấy”.

***

Chúng tôi thỏa thuận sẽ viết thư cho nhau mỗi ngày và nếu tôi không nhận được thư của cô, tôi sẽ đón ngay chuyến tàu đầu tiên quay về London.
Ba ngày sau, tôi đứng trong phòng khách của bà Catherick, đối diện với một người đàn bà tóc xám, mặc bộ váy lụa đen. Đôi mắt đen của bà nhìn chằm chằm vào tôi với ánh mắt lạnh lùng, khó chịu.
“Anh nói anh tới đây để nói chuyện về con gái tôi à?”, bà nói “Thế thì vui lòng nói những gì anh phải nói đi”.
Giọng nói của bà khô cứng hệt như những gì biểu lộ trong mắt bà. Bà chỉ vào chiếc ghế và nhìn tôi kỹ lưỡng khi tôi ngồi vào ghế.
“Bà biết con gái bà đã mất chứ?”, tôi nói.
“Tôi biết rằng nếu như thì thế thật là hoàn hảo".
“Bà có buồn không nếu cô ta có thể không mất nhưng có thể đang đối mặt với cái chết?”.
“Ừ, Vậy anh tới đây để nói với tôi là nó đã chết phải không?”.
“Đúng vậy”.
“Vì sao thế?”.
Bà ta hỏi một câu hỏi khác thường đó với giọng nói, sắc mặt, tính cách không chút biến đổi như thể tôi đang nói về cái chết của một con mèo trên đường phố.
 “Tôi nghĩ là mẹ của Anne có lẽ sẽ quan tâm tìm hiểu con mình còn sống hay chết”.
“Chỉ thế thôi sao”, bà ta nói “Nhưng anh quan tâm gì? đến nó hay tôi?. Anh đến đây có lý do gì khác không?”.
“Vâng, có”, tôi nói “Cái chết của con gái bà dẫn đến người tôi yêu bị hãm hại – bởi một gã tên là Percival Glyde”.
Bà ta không có phản ứng gì khi tôi đề cập đến tên ông ta.
“Tôi muốn ông ta phải thú nhận về tôi lỗi của mình. Bà chắc chắn biết mọi thứ về ông ta lúc chồng bà làm thư ký nhà thờ. Tôi mong bà kể hết cho tôi”.
Cuối cùng tôi thấy sự giận dữ cháy bùng trong mắt bà.
“Anh đã biết gì về những sự kiện này?”.
 “Mọi chuyện mà bà Clements có thể kể cho tôi”.
“Con mụ Clements là đồ ngu xuẩn”. Bà trở lại cơn giận dữ, miệng bà cong cớn lên với một nụ cười mỉm đáng ghét “À, Tôi bắt đầu hiểu rồi đây. Anh muốn trả thù ông Percival và anh muốn tôi giúp chứ gì. Đó là lý do vì sao anh tới đây. Được rồi, anh không biết tôi đâu. Tôi đả bỏ ra nhiều năm trời để phục hồi thanh danh của tôi ờ cái làng này. Giờ thì mọi người tôn trọng tôi. Tôi sẽ không giúp gì cho anh đâu”.
“Nếu bà sợ ông Percival, tôi hoàn tiểu được”, tôi nói. “Ông ta là người quyền thế, xuất thân từ gia đình danh giá”.
Rất ngạc nhiên, ba ta đột nhiên bùng lên cười sằng sặc.
“Xuất thân từ gia đình danh giá ư! Phải, quả là như thế! Đặc biệt là phía mẹ”, bà ta nói với vẻ ghê tởm.
Phải chăng tất cả những gì bà ta muốn nói chỉ là thế? Tôi tự hỏi.
“Bí mật giữa bà và ông Percival không phải là tình yêu tội lỗi”, tôi nhấn mạnh. “Hẳn là có việc gì khác khiến bà và ông Percival phải lén lút gặp nhau ở ngoài phòng họp của nhà thờ”.
Khi nói đến chữ phòng họp của nhà thờ, tôi thấy mốt làn sóng kinh khiếp lướt ngang qua khuôn mặt bà.
“Cút đi!", bà ta nói “Và đừng bao giờ vác mặt tới đây nữa trừ khi” – bà ta cười gằn, ác độc – "Trừ khi anh mang tin về cái chết của ông ta”.

***

Lúc này cũng đã trễ, tôi quay về khách sạn gần nhất. Có nhiều đều phải suy nghĩ. Tại sao bà ta lại tỏ vẻ khiếp đảm khi tôi nhắc tới chữ phòng họp ở nhà thờ. Tại sao bà lại ghê tởm gia đình ông Percival, nhất là đối với mẹ ông ấy? Phải chăng có điều gì bất thường về cha mẹ ông ta? Về hôn nhân? Có lẽ Có lẽ việc đăng ký kết hôn ở địa phương được lưu giữ trong phòng họp của nhà thờ Welmingham…
Tôi tìm người thư ký nhà thờ, ông ta lấy chìa khóa và đưa tôi đến phòng họp. Chỉ có thể vào phòng từ phía ngoài nhà thờ và người thư ký đã rất khó khăn để mở ổ khóa quá cũ kỹ. Khi vào bên trong tôi xin phép được xem sổ đăng ký kết hôn. Sổ được để ở trong tủ có thể được mở rất dễ dàng.
“Sổ đăng ký giữ như thế này có đủ an toàn không”, tôi hỏi.
“An toàn chứ”, người thư ký đáp. “Còn có một bản sao nữa được luật sư ở làng kế bên lưu giữ - văn phòng của ông Wansborough ở Knowlesbur”.
Tôi tất tả tìm kiếm trong sổ đăng ký về năm sinh của ông Percival và kìa, trước trang ghi tháng chín năm trước có giòng chữ ghi chèn vào chỗ trống nhỏ ở cuối trang ghi chú kết hôn của ông Felic Glyde và bà Cecilia Elster ở Knowlesbury. Thật là thông tin hữu ích. Dường như không có gì đặc biệt về mẹ ông Percival cả. Bí mật có vẻ xa vời hơn bao giờ hết.
Tới văn phòng của ông Wansborough ở Knowlesbury đi bộ hết năm dặm nhưng có thể đi đến nơi và quay lại trước khi hết ngày. Rất cần thiết phải kiểm tra bản sao sổ đăng ký và có lẽ ông luật sư có biết ít nhiều điều hữu ích.

12
Điều bí ẩn

Tay sai của ông Percival đã tấn công tôi trên đường đi đến Knowlesbury. Một tên trong bọn đi tới bên cạnh tôi và dùng lưng va mạnh vào tôi. Tôi đẩy hắn ra một cách khó khăn và ngay lập tức hắn hét lên kêu cứu. Tên kia chạy lại và hai tên kẹp lấy tôi vào giữa chúng. Tên thứ nhất cáo buộc tôi tấn công hắn ta và chúng nói chúng sẽ đưa đến đồn cảnh sát trong phố.
Tôi có thể làm gì đây? Tôi chẳng thể chống lại cả hai tên và hy vọng thoát được, vì thế tôi phải đi theo chúng.
Tại đồn cảnh sát, tên thứ nhất cáo buộc tôi đã tấn cống hắn rất thô bạo và tên thứ hai nói rằng hắn ta là người chứng. Tôi bị tống giam đến khi mở phiên tòa mất khoảng ba ngày nữa. Tôi có thể bảo lãnh để được tại ngoại, tôi được cho biết thế, nhưng tôi có thể làm thế nào đây, một kẻ hoàn toàn xa lạ trong thành phố, tìm đâu ra một người chịu trách nhiệm chi trả tiền để tôi tạm thời tự do? Toàn bộ kế hoạch bây giờ đã rõ – là làm tôi mất đứt ba ngày trong khi đó ông Percival làm mọi việc cần thiết để đề phòng bí mật của ông bị khám phá.
Thoạt tiên, tôi quá giận dữ để suy nghĩ rõ ràng. Rồi thì tôi chợt nhớ ông Dawson, vị bác sỹ. Tôi đã tới nhà ông trong chuyến viếng thăm đầu tiên của tôi tới Blackwater, vì thế tôi còn nhớ địa chỉ. Tôi viết thư cho ông, giải thích những gì đã xảy ra và xin ông giúp đỡ và nhờ người đưa thư gửi đi. Hai tiếng sau, ông bác sỹ tốt bụng xuất hiện, đóng tiền theo yêu cầu và tôi được trả tự do.
Không để mất thời gian. Tin tôi được trả tự do chắc chắn sẽ đến với ông Percival không đầy vài giờ. Tôi vội vã đến văn phòng luật sư tại đây tôi xin được phép xem bản sao đăng ký kết hôn ở Welingham. Ông Wasborough là người rất dễ thương, đồng ý cho tôi xem bàn sao. Thực tế ông ta rất thích thú. Hai mươi năm trước, cha ông ta (nay đã chết) giữ sổ đăng ký tại văn phòng đến nay chưa có ai hỏi han, xin phép xem nó cả.
Khi tôi mở sổ đăng ký, tay tôi run lẩy bẩy. Tôi lật đến trang theo ngày, tháng. Tôi kiếm cái tên tôi vừa nhớ trước đó, kết hôn của cha mẹ ông Percival. Và giữa những mục ghi ở cuối trang…?
Không có gì cả! Kết hôn giữa ông Felix Glyde và Cecilia không hề có ghi ở đây! Tôi nhìn thêm lần nữa cho chắc chắn. Không, không  còn nghi ngờ gì nữa. Ông Percival ắt hẳn đã thấy chỗ còn trống của sổ đăng ký Welingham và tự tay ghi cuộc hôn nhân vào.
Tôi không chút nghi ngờ vào điều này. Ông ta không hề là Percivap Glyde. Cha mẹ ông ta chưa hề lấy nhau và vì thế, ông ta không có quyền thừa kế Blackwater Park, không có quyền đứng tên trong đội ngũ nam tước, ngay cả không có quyền mang họ Glyde. Đây chính là bí mật của ông ta – giờ đây đã là của tôi để dùng nó chống lại ông ta.
Bản sao sổ đăng ký được cất giữ an toàn tại văn phòng luật sư nhưng tôi quyết định quay lại Welmingham để sao lại những ghi chép giả trong sổ đăng ký của nhà thờ.
Bấy giờ trời đã tối và tôi chạy vội suốt con đường tới nhà của người thư ký nhà thờ. Tôi gõ cửa nhưng khi ông xuất hiện, ông ta nhìn tôi nghi ngờ và đã từ chối
“Chìa khóa đâu?”, Ông hỏi “anh lấy phải không?”.
“Ý ông nói chìa khóa gì?”, tôi nói “Tôi mới đi từ Knowlesbury tới đây tức thì mà?”.
“Chìa khóa phòng họp”, ông ta nói “Chùm chìa khóa đã mất! có ai đó đã phá vỡ cửa và lấy đi chùm chìa khóa”.
 “Có ánh lửa kìa”, tôi nói “Chúng ta tới phòng họp. Nhanh lên”.
Chúng tôi vội chạy tới nhà thờ. Trên đường đi chúng tôi vượt qua một gã đàn ông, hắn nhìn chúng tôi với ánh mắt sợ hãi. Hắn ta có vẻ như là gia nhân hay đại loại thế. Nhưng chúng tôi không dừng lại để hỏi hắn mà tiếp tục chạy.
Khi phòng họp trong tầm nhìn của chúng tôi, tôi thấy ánh lửa thấp thoáng từ cánh cửa sổ cao. Có mùi gì là lạ trong không khí, một tiếng động của sỗ bị gãy, và ánh lửa mỗi lúc một sáng hơn và sáng hơn. Tôi chạy tới cửa chính và đặt tay vào cửa. Phòng họp đã bị cháy!
Tôi nghe tiếng mở khóa rất mạnh nơi ổ khóa – Tôi nghe tiếng đàn ông sau cánh cửa, gào lên kinh khiếp, kêu cứu.
“Chúa ơi!  Người gia nhân chạy theo sau chúng tôi kêu lên “Ông Percival đấy”.
“Cầu Chúa giúp ông ta”, người thư ký nói “ông ta đang phá khóa”.

***

Trong lúc này, tôi quên đi tội ác của ông ta và chỉ thấy tình trạng bi đát của ông ta. Lúc này đã có nhiều người chạy tới nhà thờ và tôi kêu họ giúp tôi phá cửa. Chúng tôi tuyệt vọng kiếm thứ gì đó hữu ích và cuối cùng có người tìm ra một thanh gỗ  dài và nặng.
Bấy giờ ngọn lửa đã bắn qua cửa sổ và tiếng kêu la đã ngưng. Chúng tôi cùng nắm lấy thanh gỗ và lao vào cánh cửa. Một lần, một lần nữa! Cuối cùng cánh cửa ngã sụp xuống nhưng một luồng hơi nóng phả vào mặt chúng tôi và đẩy chúng tôi lui về phía sau – và trong căn phòng chúng tôi chẳng thấy gì cả trừ ngọn lửa đang cháy phừng phừng.

***

Nhà thờ đã được an toàn khi xe cứu hỏa đến ngay sau đó khống chế được lửa trước khi lan rộng ra. Họ mang xác của Percival ra và đặt trên nền đất ướt. Tôi nhìn xuống khuôn mặt đã chết của ông và đây là lần đầu mà cũng là lần cuối tôi thấy ông.
Chắc hẳn ông ta nghe tin tôi đã được tự do và đang trên đường về Welmingham, vì thế ông đã vội vã tới nhà thờ, đánh cắp chìa khóa và tự khóa cửa nhốt mình bên trong để phòng ngừa có người vào bên trong và bắt gặp ông. Mọi việc ông ta có thể làm là xé hết các trang của sổ đăng ký và hủy đi. Nếu những giòng ghi giả dối trong sổ không còn thì tôi không có bằng chứng để đe dọa ông ta nữa. Có lẽ do sự cố gì đó, ông ta đã làm rơi cây đèn và gây ra đám cháy. Trong lúc khẩn cấp thoát ra, ổ khóa bị làm hỏng và không xoay được chìa khóa.
Tôi không thể rời khỏi thành phố. Cuộc điều tra tai nạn vào ngày hôm sau buộc tôi phải có mặt và bất kỳ trường hợp nào tôi phải quay về đồn cảnh sát ở Knowlesbury. Tôi trở về khách sạn viết thư cho Marian, kể cho cô mọi chuyện đã xảy ra và lưu ý cô trong lúc này phải giữ kín những tin tức về Laura. Với cái chết của ông Percival, hy vọng của tôi về việc xác định lại danh tính cho Laura cũng đã tiê tan và tôi có thấy hiện tại chẳng còn con đường nào để hướng tới.
Ngày tiếp theo, một phong bì ghi tên tôi được giao tới khách sạn. Lá thư bên trong không ghi ngày mà cũng chẳng ký tên nhưng trước khi đọc câu đầu tiên tôi biết ngay là của ai – bà Catherick.
“Thưa anh – Tôi đã nghĩ là anh là là kẻ thù của tôi. Giờ thì hắn ta đã chết nhờ tay anh. Tôi đã cân nhắc lại và coi ông như bạn. Tôi cám ơn những gì anh đã làm, tôi sẽ nói cho anh những việc ông muốn biết về đời tư của tôi.
Hai mươi ba năm trước, tôi là một phụ nữ xinh đẹp sống ở Welingham, kết hôn với một người chồng ngu xuẩn. Tôi cũng quen biết một quý ông – Tôi sẽ không nói tên ông ấy ra đây, sao tôi lại phải làm thế? Vì nó không phải do ông ta gây ra. Tôi sinh ra trong nhung lụa. Người đàn ông này đã cho tôi nhiều món quà đắt giá. Tất nhiên ông ấy muốn phải có gì đổi lại – đàn ông đều thế cả. Ông ta muốn cái gì? Chỉ một việc nhỏ này thôi. Lấy chìa khóa căn phòng họp của nhà thờ khi chồng tôi về nhà sau ngày làm việc. Tôi thích những món quà nên đã đưa chìa khóa cho ông ấy. Tôi chờ ông ở phòng họp, ông ấy không hề biết tôi thấy ông ta đang làm gì. Tôi đã không biết sau này đó là tội lỗi kinh khủng. Tôi nói sẽ không kể cho bất kỳ ai biết về việc ông ta đã ghi thêm cuộc hôn nhân vào sổ đăng ký kết hôn nếu ông ta nói cho tôi về đời tư của ông. Ông ta đồng ý – vì sao ông ta lại làm như thế, anh sẽ biết ngay thôi.
Ông ta nói rằng chỉ sau khi mẹ ông mất ông mới biết cha mẹ ông đã không kết hôn với nhau. Cha ông ta thừa nhận việc này và hứa sẽ làm mọi việc có thể cho con trai. Nhưng rồi ông mất đi mà chẳng làm việc gì cả. Người con tới London và thừa hưởng gia tài. Không ai nói là ông ta không được hưởng. Trên thực tế, người có quyền hợp pháp để khiếu nại về tài sản là họ hàng xa ở nước ngoài. Mặc dù vậy, để tạm vay tiền từ khoản thừa kế ông ta phải có giấy kết hôn của cha mẹ. Đây chính là vấn đề. Vấn đề mà đã đưa ông ta đến Welmingham.
Cha mẹ ông ấy hầu như sống ở nước ngoài, không có quan hệ xã hội ờ nước Anh, ai là người (thầy tế lễ đã mất) nói rằng không có việc kết hôn ở nhà thờ Welmingham?  Kế hoạch của ông ta là xé bỏ một trang ghi chép của năm trước khi ông ta sinh ra trong sổ đăng ký kết hôn  Sau đó ông ta sẽ nói với luật sư ở London rằng chứng thư cần thiết, trang ghi ngày tháng để được tham chiếu một cách trung thực đã bị mất. Chí ít là không ai có thể nói cha mẹ ông không kết hôn.
Tuy nhiên khi thấy còn một khoảng trống nhỏ ở cuối trang vào đúng năm đó, ông ấy đã thay đổi kế hoạch và chớp lấy cơ hội tự tay ghi thêm cuộc hôn nhân vào.Việc này làm mất thêm thời gian, suy nghĩ, tập viết nét chữ và pha mực cho giống màu mực, vì thế chúng trông giống hệt.
Sau khi chồng tôi bắt gặp tôi đang bí mật nói chuyện với ông ta và sau trận đánh nhau của họ, tôi yêu cầu quý ông này xóa bỏ tên tôi đi và từ đây giữa chúng tôi không còn gì nữa. Nhưng ông ta từ chối, ông muốn mọi người phải tin tưởng rằng đã có sự nhầm lẫn để họ không bào giờ nghi ngờ sự thật. Sau đó ông ta nói với tôi rằng Việc trừng phạt đối với tội lỗi của ông và cả những người đã giúp ông, là phải ngồi tù. Ông ta đe dọa tôi! Nếu tôi nói ra tôi cũng mất tất cả như ông ta. Sau đó ông ta đồng ý trả tiền cho tôi hàng năm nếu tôi không nói gì và ở lại Welmingham nơi mà ông ta luôn có thể tìm thây tôi, nơi mà không có sự nguy hiểm từ việc kết bạn bè và nói chuyện của tôi. Đây là việc khó khăn nhưng tôi chấp nhận.
Nhiều năm sau, khi con gái tôi đang ở nhà cùng tôi, Tôi nhận được lá thư của ông ta và đã làm tôi giận dữ. Tôi đã mất tự chủ và nói trước mặt nó là “Tao có thể cho ổng tiêu đời nếu tao hé lộ bí mật của ổng”. Rồi một ngày nọ ông ta tới nhà tôi và kêu nó là đồ ngu Ngay lập tức nó nói “Ông phải xin lỗi tôi ngay, không thì tôi tiết lộ điều bí mật làm cho ông tiêu đời luôn”. Chính là những lời của tôi nói! Ông ta tái nhợt. Rồi thì ông ta thề với chúng tôi. Kết cục là, như ông đã biết, ông ta đã tổng cổ nó vào Nhà thương điên. Tôi đã cố nói với ông ta rằng nó không biết gì đâu. Nhưng ông ta không tin. Con gái tôi biết nó đã làm cho ông ta hoảng sợ và ông ta là người phải chịu trách nhiệm trong việc tổng cổ nó đi vì ông ta tin tưởng  nó đã biết hết bí mật của ông. Đó là lý do tại sao nó căm ghét ông ta. Nhưng đến lúc chết nó cũng chẳng bao giờ biết bí mật đó là gì.
Tôi sẽ kết thúc bằng cách nói rằng ông lăng mạ tôi nếu ông nghĩ rằng chồng tôi không phải là cha của con gái tôi. Xin vui lòng đừng hỏi gì hơn nữa về điều này. Để tự bảo vệ mình, trong thư này tôi không nói đến cái tên nào cả mà cũng không ký tên.

13
Đe dọa

Lá thư dị thường và đáng xấu hổ của bà Catherick làm tôi tràn ngập ghê tởm. Sự quan tâm đến cái chết của ông Percival giờ đã kết thúc nhưng tôi quyết định giữ lá thư để phòng khi nó có thể giúp tôi tìm ra ai là cha của Anne.
Cuối buổi sáng hôm đó, tôi đi dự cuộc thẩm vấn về cái chết của ông Percival. Tôi chỉ bị hỏi để nói về những gì xảy ra. Tôi không bị tra hỏi tôi nghĩ thế nào về việc chìa khóa bị lấy, nguyên nhân gây cháy thế nào hoặc là tại sao ông Percival vào phòng họp. Khi không ai có thể giải thích mọi chuyện này, tuyên án cuối cùng của cuộc đều tra là “Chết do tai nạn”.
Sau đó, một quý ông cùng được thẩm vấn với tôi đã đi cùng tôi về khách sạn. Ông ta đã nghe luật sư của ông Percival về việc họ hàng xa của ông ở nước ngoài sẽ được hưởng thừa kế Blackwater Park. Đây chắc chắn là người lẽ ra được hưởng thừa kế từ hai mươi ba năm trước. Nếu tôi công khai tội ác của ông Percival thì chẳng ai được hưởng lợi cả. Nếu tôi giữ kín điều bí mật, thì sự thật về người đàn ông đã lừa Laura trong việc cưới nàng sẽ vẫn là bí mật. Và vì lợi ích của nàng, tôi quyết định giữ bí mật.
Tôi vẫn chưa thể đi khỏi Hampsphire vì tôi phải báo cáo với đồn cảnh sát Knowlesbury vào hôm sau. Tôi mất thêm một đêm nữa ở khách sạn và sáng hôm sau, đi tới bưu điện để nhận thư Marian. Như đã hứa, chúng tôi sẽ viết thư cho nhau mỗi ngày, và thư của Marian tràn đầy những tin vui. Lá thư sáng nay của cô rất ngắn và làm tôi hoảng hốt.
 Quay về ngay lập tức, chúng ta phải chuyển đi. Đến đường Fulham (số năm). Tôi chờ anh ở đó. Đừng lo lắng gì, cả hai chúng tôi đều an toàn và khỏe. Nhưng về ngay nhé – Marian.
Đã xảy ra việc gì vậy? Bá tước Fosco đã giở trò khốn nạn gì nữa trong lúc tôi đang đi khỏi vậy? Mặc dầu rất lo lắng, tôi vẫn phải chờ đợi. Tôi thanh toán tiền khách sạn và đón xe về Knowlesbury.
Tại đồn cảnh sát, đúng như tôi mong đợi, không có ai xuất hiện để chống lại tôi nữa và tôi được phép đi. Nửa giờ sau tôi đón tàu lửa trở về London.
Tôi đến Gower Walk ở Fulham khoảng chín giờ sáng. Cả laura và Marian ra tận cửa đón tôi. Trông Laura có vẻ tươi tỉnh và vui vẻ hơn; có nhiều kế hoạch cho tương lai và cho hội họa và tranh vẽ của nàng. Marian thì lại mệt mỏi, lo lắng. Tôi thấy ngay cô đã mất rất nhiều thời gian cho Laura để cho cô biết về cái chết kinh hoàng ở Welingham và lý do thực sự phải di chuyển đến chỗ ở mới. Khi vắng Laura, chúng tôi mới có thể tự do trò chuyện, Tôi cố diễn tả cảm tưởng của tôi và nói với Marian tôi cảm phục biết bao lòng can đảm và tình yêu thương cô đã thể hiện.
Cô rất rộng lòng nghe tôi nói và quay trở lại nỗi lo lắng của tôi.
“Tôi xin lỗi vì đã gửi thư” – Tôi buộc phải báo động cho anh.
“Vâng, tôi hiểu mà”, tôi công nhận “Có đúng như tôi nghĩ là cô chuyển đi vì sự đe dọa của bá tước Fosco không?”.
“Chính xác”, cô đáp “hôm qua tôi thấy ông ấy và còn tệ hơn, Walter – tôi đã chuyện với ông ta”.
“Nói chuyện với ông ấy ư? Ông ta tới tận nhà phải không?”.
“Đúng thế. Hôm qua khi tôi nhìn qua cửa sổ, tôi thấy ông ta trên đường. Sau đó có tiếng gõ cửa. Tôi vội vàng bước ra và ông ta đang đứng đó, mặc áo choàng đen, bộ mặt nhẵn nhụi và nụ cười chết chóc. Tôi đóng cửa lại đằng sau để Laura không thấy hay nghe tiếng ông ta”.
“Ông ta nói những gì?”, tôi lo lắng hỏi.
Ông ta chào mừng tôi rồi sau đó nhắc lại những điều cảnh cáo mà ông đã viết trong thư cho tôi. Ông nói ông không thể ngăn ngừa được việc bạo lực của ông Percival giành cho tôi và ông ta đã tìm được địa chỉ của chúng ta để bảo vệ mối quan tâm này. Anh đã bị theo dõi, Walter, khi anh quay trở về nhà sau chuyến đi đến Hampsphire. Ông báo tin như thế chỉ khi ông ta nghe về cái chết của Percival bởi vì ông ta tin rằng tiếp đến anh sẽ hành động chống ông ta”.
 ‘Ông ta nói đúng đó”, tôi nói “Ông ta nói gì về tôi?”
“Ông ta tỏ ra tốt bụng, rất lịch sự và cũng rất dọa dẫm”, Marian tiếp “Ông nói hãy cảnh báo cho Hartright! Cậu ta là người thông minh và đầy sức mạnh để thương lượng với nhau. Hãy bằng lòng với những gì đang có. Nói với cậu ta là nếu cậu cậu ta tấn công tôi thì tôi sẽ sử dụng toàn bộ sức mạnh của tôi để tiêu diệt. Tôi sẽ làm không từ điều gì. Thưa quý bà thân mến, xin chào nhé”. Ông ta nhìn tôi với cặp mắt xám và rồi bỏ đi.
“Tôi chạy vào trong nhà và nói với Laura phải chuyển đi nơi khác. Rằng chúng ta cần có nơi không khí trong lành ơn, hàng xóm yên tĩnh hơn vì sức khỏe của em. Tôi nói rằng anh muốn như thế và tại sao chúng ta không thực hiện ngay để tạo cho anh sự ngạc nhiên khi anh quay về. Em rất thích ý tưởng đó và hoàn toàn vui vẻ chuyển đi. Tôi tìm thấy chỗ trọ này thông qua người bạn học. Tôi làm thế là đúng phải không anh Walter?”.
Tôi trả lời cô một cách hết sức biết ơn và thân tình đúng theo cảm nhận thực sự của tôi.
Nhưng nỗi lo âu vẫn còn trên khuôn mặt cô và tôi thấy trong mắt cô vẫn còn đó nỗi sợ hãi về sự đáo để và sức mạnh của ông bá tước.
“Anh nghĩ sao về những lời nhắn nhủ của ông ta, Walter? Anh có kế hoạch gì tiếp theo không?”
 “Từ những tuần trước, tôi đã quyết định là Laura sẽ được nhận trở lại nhà ông chú của nàng”, tôi trả lời. “Và giờ tôi vẫn giữ nguyên ý định đó. Bá tước Fosco phải trả lời về tội ác của ông ta với tôi”.
Marian ngước mắt lên. Cô không nói gì cả nhưng tôi có thể thấy cô ủng hộ mạnh mẽ kế hoạch này như thế nào.
 “Tôi biết là rủi ro rất nhiều”, tôi nói “Nhưng phải làm thôi. Tôi không phải là kẻ ngốc để mà làm việc này mà không chuẩn bị trước. Tôi có thể chờ đợi. Hãy để cho ông ta nghĩ là lời nhắn nhủ của ông đã mang lại hiệu quả. Ông ta sẽ bắt đầu thấy an toàn. Tôi cũng phải được như thế, vị trí của tôi với chị và Laura cũng nên được củng cố mạnh hơn bây giờ”.
“Làm thế nào để mạnh mẽ hơn?”. Cô ngạc nhiên hỏi.
“Marian, Tôi rất muốn chị nói với Laura, một cách nhẹ nhàng, rằng chồng nàng đã chết”.
 “Rồi sao nữa Walter? Anh nói thế là có lý do, phải không?”.
“Vâng, Tôi chưa thể nói với Laura. Nhưng một ngày nào đó, không xa đâu, tôi muốn nói với Laura rằng tôi yêu nàng”.
Marian nhìn tôi một lúc sau đó cười nhẹ và buồn. “Vâng, tôi hiểu. Tôi nghĩ tôi mắc nợ anh và cô ấy điều này. Walter, tôi sẽ nói cho em biết về cái chết của chồng em”.
Ngày kế tiếp, Laura đã biết cái chết đã giải thoát cô khỏi cuộc hôn nhân và trong số chúng tôi, tên của chồng cô không bao giờ được nhắc đến nữa.

***

Cuộc sống chúng tôi trở lại theo khuôn mẫu thường lệ nhưng tôi không quên ông bá tước. Tôi khám phá ra rằng ông ta thuê nhà ở đường St John Wood thêm sáu tháng, vì thế tôi hoàn toàn chắc chắn ông ta vẫn còn lưu lại London,vẫn  nằm trong tầm tay tôi khi tới lúc ra tay hành động.
Chúng tôi còn vấn đề rắc rối nữa là ai là cha của Anne Catherick. Khi tôi tới thăm bà Clements lần nữa và nói cho bà về cái chết của Anne bà đã nhớ ra nơi bà Catherick đã làm gia nhân. Bà chủ của bà ta là ông Donthorne.
Tôi viết thư cho ông Donthorne và nhận được hồi đáp với nhiều thông tin thú vị. Philip Fairlie, cha của Laura là bạn thân của ông. Khi còn trẻ, họ thường xuyên đi lại với nhau. Ông ta rất đẹp trai và được phụ nữ ở công ty yêu mến, ông Donthornme hoàn toàn chắc chắn rằng ông Philip Fairlie ở tại nhà ông ấy khi bà Catherick đang làm gia nhân vào trước năm sinh Anne.
Khi tôi và Marian kiểm tra lại ngày tháng chúng tôi chú ý rằng Anne và Laura và Anne rất giống nhau và khi chúng tôi so đo kỹ thì thấy rằng thực sự thì Laura giống cha hơn, chúng tôi không còn nghi ngờ rằng đây chính là lời giải. Philip Fairlie là cha của Anne và như thế nghĩa là Anne là em chùng cha khác mẹ của Anne.
Rốt cuộc thì người đàn bà mặc đồ trắng, bóng dáng kỳ dị buồn bã độc hành trong đêm đã có thể yên nghỉ trong an bình.

***

Bốn tháng trôi qua. Cơ thể và trí tuệ của Laura đã khá hơn. Nàng hầu như là nàng những ngày xưa và khi chúng tôi chuyện trò cùng nhau thì giống như chúng tôi từng trò chuyện ở Limmeridge. Nếu tôi đụng chạm đến những tai nạn của nàng, tôi cảm thấy tim tôi đập nhanh và tôi thấy câu trả lời thể hiện qua sắc mặt nàng. Vào tháng tư, chúng tôi đi nghỉ ở bờ biển. Trong lúc ở đây, tôi nói với Marian rằng khi trở về London, tôi nhất định sẽ ép buộc bá tước Fosco phải thú tội – buộc ông phải nói ra thời điểm thực sự chuyến đi của Laura đến London.
“Nhưng một khi tôi thách thức với bá tước, vì sự an toàn cho Laura, tôi nghĩ tôi nên thách thức với ông ta với tư cách là chồng của Laura. Cô có đồng ý không  Marian?”.
 “Đồng ý tới từng chữ một”, cô đáp “Tôi đã chia cắt hai người một lần rồi. Đợi ở đây, người em, người bạn tốt nhất, thân thiết nhất của tôi! Đến khi Laura tới và kể cho anh nghe những gì tôi đã làm ngay bây giờ”.
Cô hôn lên trán tôi và quay về phòng. Tôi đợi bên cửa sổ nhìn ra biển, không thấy gì cả, thở một cách khó khăn. Cửa mở, và Laura vào một mình. Khi chúng tôi chia tay ở Limmeridge, nàng cũng vào phòng chậm rãi, buồn rầu và nói ấp úng. Bây giờ thì nàng chạy tới tôi, với khuôn mặt sáng bừng hạnh phúc. Nàng ôm choàng lấy tôi áp đôi môi ướt át vào môi tôi.
“Anh yêu”, nàng thì thầm “Giờ thì chúng mình có thể nói là chúng mình yêu nhau không? Ôi cuối cùng thì em đã vô cùng hạnh phúc” .
Mười ngày sau chúng tôi càng hạnh phúc hơn. Chúng tôi cưới nhau.

14
Thú tội

Hai tuần sau, chúng tôi quay lại London và tôi bắt đầu cho cuộc chiến của tôi với ông bá tước. Giờ đã là đầu tháng năm và hợp đồng thuê nhà của ông bá tước sẽ kết thúc vào cuối tháng sáu. Trong niềm hạnh phúc mới với Laura (Chúng tôi không bao giờ nhắc tới tên ông bá tước), đôi lúc tôi cố thử thay đổi cách nghĩ để quên đi mọi việc. Nhưng nàng vẫn có những giấc mơ kinh khủng đến nỗi khóc thét lên trong đêm và tôi biết tôi phải tiếp tục thôi.
Trước tiên tôi cố tìm kiếm thêm về ông bá tước. Marian kể với tôi rằng đã nhiều năm nay ông ta không quay trở về nước Ý. Phải chăng ông ta rất vừa lòng rời khỏi nước Ý vì lý do chính trị, tôi tự hỏi? Nhưng Marian cũng cho biết thêm là khi còn ở Blackwater, ông ta có nhận nhiều công thư có dán tem nước Ý. Điều này có vẻ mâu thuẫn với ý tưởng trên. Có lẽ ông ta là một gián điệp, tôi nghĩ thế. Điều này có thể giải thích được lý do ông ta vẫn ở lại London rất lâu sau khi đã hoàn thành mưu đồ của mình. Tôi có thể hỏi ai biết về việc này đây. Những người đồng hương của ông ta chăng? Có thể lắm chứ! Và tôi chợt nhớ đến anh bạn người Ý, giáo sư Pesca.
Trước khi tiến hành, tôi quyết định theo dõi ông bá tước ngay từ lúc này. Trước đây tôi chưa lần nào để mắt đến ông ta. Vì vậy một buổi sáng nọ tôi đi tới đường St John’s Wood và đợi ở gần nhà ông. Cuối cùng thì ông ta ra khỏi nhà và tôi theo sau ông ta khi ông ta đi đến khu trung tâm London. Marian đã cho tôi biết về dáng vóc to lớn, áo quần sang trọng của ông ta nhưng tôi chưa biết về vẻ tươi tắn một cách khủng khiếp và nét hoan hỉ, tràn đầy sức mạnh của con người này.
Khi đến gần đường Oxford, ông ta dừng lại xem thông báo về vở Opera và rồi đi tới quầy vé gần đó. Tôi ngửng đầu lên xem tờ thông báo. Vở Opera sẽ được công diễn vào tối nay và hình như ông bá tước sẽ là thính giả.
Nếu tôi mời Pesca vào xem vở Opera, tôi nghĩ tôi có thỉ chỉ ông bá tước cho anh ta và sẽ biết thêm ít nhiều nếu anh ta biết ông ấy. Thế là tôi mua hai vé, một cho tôi, một gửi cho Pesca cùng với lời nhắn mời anh ta tối nay đi xem vở Opera với tôi.
Khi âm nhạc bắt đầu trỗi lên, chúng tôi đã vào bên trong và mọi chỗ ngồi đã đầy nghẹt. Tuy nhiên, có chỗ đứng xem ở hai bên. Tôi nhìn quanh và phát hiện ông bá tước đang ngồi ỡ dãy giữa vì thế  tôi cùng với Pesca đến đứng ở chỗ cùng dãy ghế của ông. Khi kết thúc màn khởi đầu, khán giả, trong đó có ông bá tước, đứng dậy để ngắm các diễn viên.
Khi ông bá tước rơi vào tầm nhìn của chúng tôi, tôi lấy cùi chỏ hích vào Pesca. “Anh có thấy cái ông to béo kia không? Anh có biết ông ấy không?”.
 “Không”, Pesca nói “Người nổi tiếng à? Sao anh lại chỉ ông ta? ”.
“Bởi vì tôi có lý do cần phải biết nhiều về ông ta. Ông ta là người Ý, gọi là bá tước Fosco. Anh có biết cái tên này không? Nhìn đi – đứng trên bậc cấp anh sẽ thấy ông ta rõ hơn”.
Một gã đàn ông gầy, tóc vàng hoe có sẹo ở bên gò má trái đứng gần chúng tôi. Tôi thấy hắn nhìn Pesca và nhìn theo hướng nhìn của Pesca về phía ông bá tước Fesco. Pesca lập lại rằng anh ta không biết ông ấy. Khi anh ta đang nói, ông bá tước nhìn về phía chúng tôi.
Ánh mắt của hai người Ý gặp nhau.
Trong giây phút đó, tôi đột nhiên tin chắc rằng trong khi Pesca không biết gì về ông bá tước thì ngược lại ông bá tước lại biết rất rõ anh ta.
Không chỉ biết anh ta, hơn thế nữa, ông ta rất ngạc nhiên và sợ hãi. Mặt ông bá tước như cứng lại trong nỗi khiếp sợ thầm lặng, đôi má tái xanh như chết rồi, đôi mắt xám lạnh nhìn trong nỗi kinh hoàng.
“Sao ông to béo đó lại nhìn chòng chọc như thế?”, Pesca nói và nhìn xung quanh “Nhưng trước đây tôi chưa từng thấy ông ấy”.
Khi Pesca nhìn ra phía khác, ông bá tước quay ngoắt và nhanh chóng di chuyển về phía sau rạp hát, nơi đám đông đúng đông nghẹt. Tôi nắm lấy tay Pesca lôi vội anh ta đi theo ông bá tước trong sự ngạc nhiên của anh ấy. Gã đàn ông gầy có sẹo trên gò má hình như cũng quyết định bỏ đi và đối đầu với chúng tôi. Lần này thì Pesca và tôi đang tiến tới lối ra, không thấy ông bá tước lẫn gã gầy.
“Pesca này”, tôi nói vội “Tôi có chuyện riêng này phải nói với anh. Chúng ta tới chỗ ở của anh nói chuyện nhé”.
“Cái quái quỷ gì vậy?”, Pesca kêu lên.
 Tôi vội vã lôi anh ta đi không trả lời .Ông bá tước đi về phía trái rạp hát, cùng với nỗi khiếp sợ muốn lẩn tránh Pesca làm tôi e rằng ông ta có lẽ đã vượt thoát xa tầm tay chúng tôi.
Tại chỗ ở của Pesca, tôi nhanh chóng giải thích cho anh ta mọi chuyện trong khi Pesca nhìn vào tôi trong bối rối và sửng sốt tột độ.
“Ông ấy biết anh – ông ta sợ anh. Ông ta rời khỏi rạp hát để trốn khỏi anh”, tôi nói “Ắt hẳn phải có lý do, Pesca! Hãy nhớ lại quãng đời anh sống trước khi tới nước Anh. Anh rời bỏ nước Ý vì lý do chính trị. Tôi không hỏi là lý do gì. Nhưng có thể nỗi sợ hãi của người đó có mối liên quan gì đó đến quá khứ của anh”.
Thế là trong sự ngạc nhiên tột cùng của tôi, những lời nói vô hại của tôi có vẻ lại làm Pesca khiếp đảm. Mặt anh ta trắng bệch và anh ta bắt đầu run rẩy.
“Walter!”, anh ta thì thào. “Anh không biết anh đang hỏi điều gì đâu”.
Tôi nhìn anh ta “Pesca, tha lỗi cho tôi. Tôi không cố ý làm anh đau đớn. Tối chỉ nói vì những gì đã làm vợ tôi phải khốn khổ do hành động độc ác của gã đó thôi. Anh tha lỗi cho tôi”.
Tôi đứng lên để đi. Anh ta ngăn tôi lại trước khi tối tiến đến cánh cửa.
 “Đợi đã”, anh nói “anh đã có lần cứu sống tôi. Anh có quyền được nghe những gì anh muốn biết, ngay cả tôi có thể bị giết vì điều này. Tôi chỉ hỏi rằng liệu anh có thấy có mối liên hệ gì giữa cái gã Fosco ấy với quá khứ của tôi không”.
Sau đó, mặt anh vẫn tái xanh khi ký ức tràn ngập lấy anh. Anh ta kể cho tôi nghe câu chuyện.
“Tuổi thanh niên của tôi thuộc về và mãi mãi thuộc một nghiệp đoàn chính trị bí mật. Hãy gọi là Hội huynh đệ. Tôi không thể nói cho anh tên thật của nó. Nhưng tôi đã gây nên nhiều điều quá liều lĩnh và làm nhiều việc gây nguy hiểm cho các thành viên. Do vậy tôi được yêu cầu ra đi và sống tại nước Anh và chờ đợi, tôi đã đi – tôi đã đợi – đến giờ vẫn đợi. Tôi có thể bị gọi đi vào ngay ngày mai hay mười năm nữa. Tôi không thể biết”.
 “Mục đich của Hội huynh đệ là đấu tranh cho quyền con người. Hội có một chủ tịch hội trong nước Ý và một ở ngoài nước. Mỗi chủ tịch có thư ký của mình. Chủ tịch và thư ký biết hết mọi thành viên nhưng những thành viên không biết nhau cho đến khi nào có sự cân nhắc cần thiết. Mỗi thành viên của Hội huynh đệ được nhận biết bằng một ký hiệu nhỏ hình tròn trên da phía trên cánh tay trái”.
Anh ta vén tay áo và chỉ cho tôi xem ký hiệu.
 “Nếu ai đó phản bội Hội huynh đệ”, anh tiếp tục “Coi như hắn đã chết. Một thành viên khác, à một người xa lạ hay cũng có thể là láng giềng sẽ được lệnh giết hắn. Không ai có thể thoát khỏi Nghiệp đoàn – mãi mãi thế”.
Pesca dừng lại một lúc rồi tiếp “Ở Ý, tôi đã được chọn làm thư ký. Lúc đó, mọi thành viên đều phải ra mắt chủ tịch và tôi. Tôi biết anh hiểu, tôi thấy điều đó trên khuôn mặt anh. Nhưng anh đừng nói gì cả, xin anh đấy, hãy để tôi tự hành xử theo trách nhiệm kinh khủng được giao”.
 “Tôi không biết gã đàn ông trong rạp hát Opera”, anh ta nói “Nếu hắn ta biết tôi, nghĩa là hắn đã thay đổi rất nhiều hoặc là cải trang nên tôi không nhận ra. Thôi anh về đi Walter. Tôi nói thế đủ rồi”.
“Chân thành cảm ơn anh, Pesca” , tôi nói “Anh sẽ không bao giờ hối hận vì đã đặt niềm tin nơi tôi”.
Quay về nhà, tim tôi hồi hộp đập. Chắc chắn đây là vũ khí cuối cùng của tôi để chống lại ông bá tước! Tôi tin chắc ông ta là thành viên của Hội huynh đệ, đã phản bội lại Hội và tin chắc rằng đêm nay ông ta đã bị phát hiện ra. Giờ thì tính mạng của ông đang bị đe dọa. Còn gì khác có thể giải thích nỗi hoảng hốt của ông ta khi thấy Pesca?
Và rồi ông ta sẽ làm gì tiếp theo? Rời khỏi London tức khắc. Nếu tôi tới nhà và cố ngăn ông ta lại, ông ta sẽ không ngần ngại giết tôi ngay. Để tự bảo vệ mình, tôi phải làm sao để sự an toàn của ông ta phụ thuộc vào tôi. Tôi vội trở về nhà và viết thư cho Pesca như sau:
Người đàn ông ở rạp hát Opera, Fosco, là thành viên của nghiệp đoàn của anh và đã phản bội nghiệp đoàn. Hãy tới ngay nhà số 5 đường St John’s Wood. Tôi đã chết rồi. Hãy dùng mọi quyền hạn của anh đã chống lại hắn đừng trì hoãn.
Tôi ký tên và ghi ngày tháng vào và ghi trên phong bì: Hãy đợi đến chín giờ sáng mai, nếu anh không nghe gì về tôi thì hãy mở phong bì và xem nội dung thư.
Sau đó tôi tìm người đưa thư, bảo ông ta giao thư và nhận lại tin báo của giáo sư Pesca là đã nhận được thư. Hai mươi phút sau, tôi đã nhận được tin báo và khi tôi ra đi, Marian tiễn tôi tận cửa và trông rất lo âu.
 “Đêm nay phải không?”, cô nói “Anh sẽ đi tới chỗ ông bá tước”.
“Phải, đây là cơ hội cuối cùng và tốt nhất”.
“Ôi, Walter, đừng đi một mình, Cho tôi đi theo với, đừng đi một mình!”.
“Không, Marian, chị phải ở lại đây để bảo vệ cho Laura. Có vậy thì tôi mới thoải mái đầu óc khi đối mặt với ông bá tước”.

***

Khi tôi tiến tới nhà ông bá tước, tôi băng qua một người đàn ông có vết sẹo trên má mà trước đó tôi đã bắt gặp ở rạp Opera. Hắn ta làm gì ở đây thế nhỉ? Tôi tự hỏi.
Tôi gửi danh thiếp và vẫn không biết tại sao ông bá tước lại mời tôi vào nhà vào lúc mười một giờ rưỡi đêm. Có phải ông ta thực sự tò mò muốn thấy tôi. Ông ta hẳn không biết là tôi đã có mặt cùng với Pesca ở rạp Opera và tôi đồ rằng ông ta nghĩ tôi chả có gì phải đáng sợ.
 “Anh đến có việc gì thế, anh Walter?”, ông ta hỏi, nhìn tôi với vẻ tò mò “Tôi không nghĩ ra có chuyện gì?”.
“Chắc hẳn là ông đang chuẩn bị đi xa phải không?”, tôi nói “Đó chính là việc của tôi. Tôi biết vì sao ông rời khỏi London”.
“Sao, anh biết vì sao tôi rời khỏi London ư?”, Ông bước tới bàn và mở ngăn kéo ra. “Vui lòng nói cho tôi biết lý do”.
 “Tôi có thể cho ông biết lý do”, tôi nói “Cuộn tay áo trái của ông lên ông sẽ thấy”.
Cặp mắt xám của ông nhìn vào mắt tôi. Nghe rõ cả tiếng tim đập trong yên lặng. Tôi chắc chắn ông ta dấu một khẩu súng trong ngăn kéo và mạng sống của tôi như mành treo chuông.
“Đợi một chút”, tôi nói “Trước khi anh hành động, tôi khuyên ông nên đọc tin báo này”. Di chuyển một cách chậm chạp và thận trọng, tôi đưa cho ông mẩu tin báo của Pesca. Ông ta đọc to từng giòng.
Tôi đã nhận thư của anh. Nếu tôi không nhận được tin tức của anh trước chín giờ sáng, tôi sẽ mở thư khi đồng hồ điểm.
Nếu là người khác ắt hẳn phải cần được giải thích nhưng ông bá tước thì không. Ông thay đổi nét mặt và đóng ngăn kéo lại.
“Anh thông minh hơn tôi nghĩ đấy”, ông nói “Tôi không thể đi trước chín giờ vì còn phải chờ nhận hộ chiếu. Thông tin của anh có thể đúng hoặc sai – anh lấy thông tin này từ đâu”.
 “Tôi không thể cho ông biết được”.
‘Thế lá thư không ký tên anh đưa cho tôi – ai viết vậy?”.
“Của một người mà ông có lý do để khiếp sợ”.
Ngưng một chút “Anh muốn gì ở tôi, anh Walter? Có lẽ liên quan đến một phụ nữ?”.
“Đúng thế, vợ tôi”, tôi trả lời.
Ông ta nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên thực sự và ngay tức khắc tôi thấy ông ta không còn xem tôi như một kẻ nguy hiểm nữa. Ông ta khoanh tay lại và lắng nghe tôi với nụ cười lạnh lẽo.
 “Ông đã phạm vào một tội ác ghê tởm”, tôi tiếp tục “Nhưng thôi, ông có thể giữ lấy tiền. tất cả những gì tôi muốn là lời thú nhận có ký tên đầy đủ tình tiết và chứng cớ về ngày vợ tôi quay về London”.
“Được thôi”, ông nói “Đó là điều kiện của anh, còn đây là điều kiện của tôi. Một là, Tôi và bà Fosco sẽ rời khỏi nhà khi nào chúng tôi muốn và anh không được cố ngăn cản chúng tôi. Hai là, anh phải đợi ở đây cho đến khi đại lý của tôi tới đây vào sáng mai và anh sẽ phải đề nghị anh ta gửi lại lá thư còn nguyên lại cho anh. Sau đó anh phải giành cho chúng tôi nửa giờ để rời khỏi nhà. Ba là, anh phải đồng ý sẽ đấu với tôi tại một nơi được thỏa thuận trước ở nước ngoài.  Anh có chấp nhận những điều kiện của tôi không – có hay không?”.
Sự quyết định nhanh chóng, cá tính mạnh mẽ và thông minh của ông làm tôi rất ngạc nhiên. Tôi ngập ngừng một giây. Tôi có nên để ông ta trốn thoát không? Phải, bằng chứng  tôi cần để chứng minh nhân thân của Laura quan trọng hơn việc trả thù nhiều.
Tôi nói “Tôi đồng ý”.
Lập tức, ông gọi cà phê và ngồi xuống viết. Ông ta lặng lẽ viết rất nhanh. Cuối cùng ông nhổm dậy báo rằng đã hoàn thành và đọc tờ khai báo của ông mà tôi rất thỏa mãn chấp nhận. Ông ta đưa cho tôi địa chỉ của hãng xe ông ta đã thuê đón Laura và đưa cả lá thư có chữ ký ông Percival. Đó là ngày 25 tháng bảy và thông báo chuyến đi của phu nhân Glyde đến London vào ngày 26 tháng bảy. Đây chính là vấn đề. Vào ngày 25 tháng bảy, là ngày mất của nàng theo giấy xác nhận của London, thì Laura vẫn còn sống ở Hampshire, chuẩn bị chuyến đi vào ngày kế tiếp.
Sau đó ông bá tước gọi bà Fosco trông chừng tôi trong khi ông ta ngủ. Sáng sớm, đại lý của ông đến và tôi viết tin báo cho Pesca. Một giờ sau, đại lý quay trở lại với lá thư còn nguyên của tôi và hộ chiếu của ông bá tước.
“Hãy nhớ lấy điều kiện thứ ba đấy”, ông bá tước nói khi ra đi. “Anh sẽ nhận được tin tôi, anh Hartright”. Sau ông và bà vợ lên xe của đại lý cùng với hành lý và lái xe đi, để lại người của đại lý với tôi đã bảo đảm tôi không đuổi theo.
Khi tôi nhìn họ ra đi thì một chiếc xe khác đi ngang qua và tôi thấy bên trong xe là gã đàn ông có sẹo trên má. Hắn ta có việc gì với ông bá tước thế? Tôi tự hỏi. Tôi đã thấy hắn rồi, không thể khác. Có lẽ tôi đã chiến đấu với ông bá tước rất đúng lúc, Bạn không thể nào lấy được bản thú nhận có chữ ký của người đã chết, đúng không?
Trong khi tôi ngồi đợi theo như đã thỏa thuận là nửa tiếng, tôi đọc tờ trình của ông ta viết cho tôi.

TỜ TRÌNH CỦA Isidor Ottavio Baldassare Fosco

Việc trước tiên phải làm là kiếm cho ra Anne Catherick người mà như tôi đã nói là rất giống phu nhân Glyde và cũng là người đã trốn khỏi nhà thương điên. Tôi đã có ý tưởng lạ thường là tráo đổi  tên tuổi, và nơi sinh sống của bà phu nhân Glyde và cố Anne Catherick. Kết quả tuyệt vời của việc đánh tráo này là có được 30.000 bảng và giữ được bí mật cho ông Percival.
Tôi đã tìm thấy Anne Catherick và thuyết phục cô và người bạn của cô quay trở lại London. Tự tôi thuê một ngôi nhà ở đường St John’s Wood và đã nhận được lời với ông Fairlie để cho bà Glyde tới thăm. Theo kế hoạch của tôi, cần phải để cho bà Glyde rời khỏi Blackwater một mình và trú qua đêm tại nhà tôi trên đường trở về Limmeridge. Kế hoạch được thực hiện dễ dàng hơn vì cô Halcombe bị bệnh. Tôi quay về Blackwater và khi cô Halcombe đang trong tình trạng nguy kịch, tôi tống khứ ông bác sỹ đi và chỉ đạo cho ông Percival đuổi hết người làm đi.
Kế tiếp, tôi đưa bà Michelson đi khỏi một vài ngày và một đêm nọ, tôi, vợ tôi và bà Rubella đã chuyển cô Halcombe đang ngủ mê mệt tới một nới ít dùng đến trong ngôi nhà. Tôi rời khỏi London vào buổi sáng cùng với vợ tôi, tách khỏi ông Percival để thuyết phục bà Glyde là chị của cô ta để quay về Limmeridge và cô nên đi theo chị ấy. Trong  chuyến đi đến London sẽ tạm dừng chân nghỉ lại tại nhà tôi.
Ngày 24 tháng bảy, cùng với sự hỗ trợ của vợ tôi, tôi đã tóm được Anne Catherick và đem cô về nhà tôi trong vai bà Glyde. Tuy nhiên khi cô nhận ra không có ai ở đây, cô đã kêu gào khủng khiếp, cú sốc mạnh đến trái tim bệnh tật của cô là nguyên nhân cô gục ngã. Cuối ngày hôm sau, cô mất. Mất vào ngày 25 tháng bảy và bà Glyde chưa tới London cho đến ngày 26.
Quá trễ để thay đổi kế hoạch. Tôi vẫn còn bình tĩnh để tiếp tục tiến hành. Ngày 26, đưa bà Glyde giả chết khỏi nhà, tôi đón bà Glyde thật ở nhà ga và đưa cô ta đến nhà bà Rubella. Hai người thầy thuốc mà tôi thuê (chúng tôi nói thế) dễ dàng bị thuyết phục để chứng nhận việc bà Glyde  lẫn lộn và khiếp đảm là người bị thần kinh. Sau đó tôi cho cô ta uống thuốc và bà Rubella lấy quần áo của Anne Catherick mặc cho sô. Ngày tiếp theo, ngày 27, cô ta bị đưa vào Nhà thương điên, nơi đây cô được tiếp nhận với sự bất ngờ rất lớn nhưng không có nghi ngờ gì cả. Bà Glyde giả được an táng tại Limmeridge. Tôi dự đám tang với sự biểu lộ thông cảm sâu sắc một cách thích đáng.
Vẫn còn một câu hỏi cuối cùng. Nếu lúc đó Anne Catherick không chết thì sao? Tôi sẽ làm gì? Tôi sẽ, tất nhiên, cho cô ta sự giải thoát hạnh phúc khỏi cuộc sống ngục tù của cô.

I5
 Bằng chứng


Khi nửa giờ trôi qua, tôi quay về nhà. Sau khi giải thích ngắn gọn cho Laura và Marian biết, tôi vội vã quay về nhà đường St John’Wood để tìm người lái xe mà ông bá tước đã thuê đi đón Laura ở nhà ga. Anh ta đã viết cho tôi một tờ tường trình mà anh ta ký tên là nhân chứng, nói rằng vào ngày 26 tháng bảy năm 1850, anh ta đã đưa ông bá tước Fosco tới ga tàu lửa  đón cô Laura. Anh ta nói nhớ cái tên Laura Glyde vì thấy trên nhãn hành lý.
Sau đó tôi tới văn phòng của ông Kyrle và trình cho ông ta các chứng cứ xác định nhân thân của Laura – thư của ông Percival, tờ trình của người lái xe, tự thú của của ông bá tước và giấy chứng tử của nàng. Hết sức kinh ngạc, ông đã chúc mừng tôi và đồng ý ngày hôm sau sẽ cùng tôi đi Limmerridge, nơi mà tôi cố ý để Laura được công khai được nhận diện và thừa nhận.
Sáng sớm hôm sau, Laura, Marian, ông Kyrle và tôi đón chuyến tàu tới Limmeridge. Trước tiên, Laura và Marian ở tại khách sạn trong khi tôi và ông Kyrle đến nhà thương lượng với ông Fairlie. Ông ta càm ràm như một đứa trẻ, bảo rằng làm sao mà ông ta có thể nói đưa cháu gái còn sống một khi ông đã nói nó mất rồi? Chúng tôi buộc ông gửi thư gọi tất cả những người đã tham dự đám tang giả tới nhà vào ngày hôm sau.
Khi tôi đưa Laura trở lại ngôi nhà thửơ ấu thơ vào sáng hôm sau, đám đông người làng và láng giềng tụ tập chờ đợi, xì xào, ngạc nhiên và thích thú. Công việc vậy là đã xong. Tôi đọc công khai mọi tình tiết câu chuyện ám hại Laura và ông Kyrle thông báo mọi việc tôi nói đều có căn cứ xác đáng.
Tôi ôm choàng lấy Laura, bế nàng lên và kêu lên với đám đông:
 “Các bạn có đồng ý đây chính là Laura Fartlie mà các bạn đã biết không?”.
“Chính là cô ấy đấy, vẫn sống khỏe mạnh, Chúa phù hộ cho cô”  một ông lão đứng ở cuối căn phòng nói và ngay lập tức, mọi người cùng nhau hò reo vui mừng.
Sau đó, tại nghĩa trang, chúng tôi xem người thợ đá tháo bỏ tên Laura khỏi ngôi mộ. Tại chỗ tháo ra, ông đưa vào đó:
ANNE CATHERCK
25 tháng bảy 1850
Chúng tôi quay về London vào ngày tiếp theo, hạnh phúc trong suy nghĩ rằng cuộc chiến đấu giờ đã kết thúc.

***

Nhiều ngày sau, Pesca đến thăm tôi và nói nhỏ vào tai tôi. Anh ta mới từ Paris về.
"Tôi có tin mới cho anh đây, anh bạn", anh ta nói "Anh khỏi phải bận tâm về gã đàn ông trong rạp hát Opera nữa. Thi thể của ông ta được tìm thấy trên sông Seine hôm qua và hiện nay đang được quàn ở nhà xác ở Paris. Hắn ta chết do bị đâm thấu tim".
"Bá tước Focus đã chết ư?", tôi nói, kinh ngạc. "Anh có chắc không?".
"Chính mắt tôi thấy xác ông ta, Ông ta mặc một bộ đồ công nhân Pháp và đã mang tên khác, tất nhiên rồi, nhưng ông ta chính là gã to béo chúng ta gặp ở nhà hát Opera. Đừng hỏi gì nữa".
"Nhưng là thế nào anh biết điều này?", tôi hỏi.
Pesca ngập ngừng. "Một người đàn ông mang đến cho tôi vài tin tức", anh ta nói "Tôi phải thấy thi thể và gửi báo cáo về việc này".
"Một người đàn ông a? tôi nói "Anh ta thuộc loại người nào?".
"Một người xa lạ", Pesca nói "Tôi không biết anh ta. Một người đàn ông có sẹo trên má trái". Anh ta thấy tôi đã hiểu và rồi xiết chặt tay anh. "Xin vui lòng đừng hỏi gì thêm nữa nhé, anh bạn".
Chúng tôi không bao giờ nói về chuyện này nữa nhưng tôi nghĩ Pesca đã cho tôi biết Hội huynh đệ đã ra tay báo thù. Và như thế bà tước Fosco, con người độc ác, dị thường đã đi về bên kia thế giới.

***

Năm sau con đầu lòng của chúng chào đời - một bé trai. Sáu tháng sau tòa soạn báo đưa tôi đến Ireland, khi trở về tôi nhận được thư của vợ tôi báo rằng nàng và Marian và bé Walter đã quay về ngôi nhà Limmeridge. Nàng khẩn thiết tôi quay về ngay khi có thể. Rất ngạc nhiên, tôi đón ngay chuyến tàu kế tiếp. Khi tôi đến nơi, Marian và Laura cho tôi biết ông Fairlie đã mất và ông Kyrle khuyên họ quay về ngôi nhà Limmeridge.
Laura tiến lại gần tôi  và tôi đã nhận ra vài sự thay đổi lớn đã xảy ra trong cuộc đời chúng tôi.
"Walter, anh có biết ai đây không?", Marian hỏi, ôm chặt con trai bé bỏng của tôi, giọt lệ hạnh phúc tuôn ra từ đôi mắt cô. "Đây là cậu bé mà một ngày nào đó sẽ thừa kế ngôi nhà Limmeridge".

Cô đã  nói như vậy đấy, Viết đến những giòng cuối cùng này, tôi đã ghi hết mọi chuyện. Marian là bạn tốt của cả đời chúng tôi - hãy để Marian kết thúc câu chuyện.

Nha Trang, ngày 23/10/2013
HẾT

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét