CÂU CHUYỆN DO MARIAN HALCOMBE KỂ
4
Chuẩn bị cho cuộc hôn nhân
Một ngày thật buồn khi Water
Hartright rời bỏ chúng tôi. Laura ngồi trong phòng của em suốt ngày và tôi cảm
thấy buồn và chán nản. Ông Gilmore đã mất thời gian vô ích. Sáng hôm sau, Laura
xuất hiện trở lại, trông em xanh xao và bệnh hoạn, tôi nghĩ ông ấy có vẻ lo cho
em hơn, tôi cũng thế. Laura thực sự rất đáng yêu và hấp dẫn nên không có gì là
ngạc nhiên khi Walter yêu mến em. Thật tình thì chính tôi cũng mến anh ta.
Nhưng tôi thật lòng nghĩ thời gian sẽ chữa lành nỗi niềm của em.
Hai ngày sau khi Walter ra đi,
ông Percival đến. Ông ta đã bốn mươi lăm tuổi nhưng trông trẻ hơn, vẻ ngoài ưa
nhìn và chỉ hơi bị hói một chút, tính cách chỉn chu, thoải mái, dễ thương và
lịch lãm. Tôi phải cố gắng để mến ông ta.
Vào buổi chiều, khi Laura ra
khỏi phòng, ông Percival có nhắc đến lá thư của Anne Catherick.
“Tôi đã đọc lá thư của ông Gilmore gửi cho luật
sư của tôi”, ông nói “Tôi muốn giải thích đầy đủ cho cô rõ. Bà Catherick, cô
biết đấy, đã làm việc cho tôi và gia đình trong nhiều năm. Hôn nhân của bà
không được suôn sẻ lắm, trong đó phải kể đến việc chồng bà ruồng rẫy bà và đứa
con cái duy nhất bị thiểu năng cần phải đưa vào Nhà thương điên. Vì ghi nhận
công sức của bà Catherick, tôi đã đồng ý thanh toán chi phí rất đắt để đưa cô
con gái của bà vào Nhà thương điên. Không may là cô con gái biết được nên đã
sinh ra căm thù tôi. Hiện tại cô ta đã trốn khỏi Nhà thương điên và tôi chắc
chắn rằng cô ta đã viết lá thư này vì căm ghét tôi. Thật đáng buồn”.
Ông Gilmore hoàn toàn thỏa mãn
với lời giải thích này và cũng nói y như vậy. Rôi ông ta nhìn vào tôi để mong
tôi cũng đồng tình nhưng tôi vẫn vật lộn trăn trở với cảm giác bất an không thể
giải thích và rất do dự trước khi trả lời. Ông Percival nhận ra thái độ của tôi
ngay.
“Tôi xin cô đấy, cô Halcombe”,
ông ta nói một cách lịch sự. “Cô cứ viết thư cho bà Catherick hỏi xem có đúng
như thế không?”.
Tôi không muốn đồng ý chút nào
nhưng không biết làm sao để từ chối mà không làm tình hình thêm rối rắm? Vì thế
tôi đi tới bàn giấy viết vài chữ đưa cho ông ta. Ông ta không nhìn, bỏ luôn vào
phong bì, viết địa chỉ gửi đi.
“Giờ thì mọi việc đã xong” , ông
nói “Tôi xin hỏi cô Anne Catherick đã nói với cô Fairlie hay với cô?”.
“Không, cô không nói vói ai
cả, trừ ông Hartright”. Tôi trả lời.
“A, ông thầy dạy vẽ”, ông ta
thận trọng nói, “Thế cô có biết cô Anne đang ở đâu không?”.
Tôi mô tả nông trại cho ông
ta.
“Nhiệm vụ của tôi là phải tìm
ra cô ấy”, ông tiếp tục “Ngày mai tôi sẽ đi tới đó và hỏi han thêm”. Ngay sau
đó ông quay về phòng.
***
Tối hôm đó và ngày hôm sau ông
Percival luôn kiếm cách trò chuyện với Laura nhưng cô không hé lộ điều gì. Ông
ta đi đến nông trại để điều tra về Anne nhưng không biết được gì hơn. Sau đó
vào thứ tư, có thư của bà Catherick, một lá thư ngắn giống kiểu thư công việc –
gửi lời cám ơn tôi và nói rằng mọi việc ông Percival nói đều đúng sự thật.
Nhưng sao tôi vẫn thấy nghi
ngờ? đối với mọi người, chứng cứ như thế chắc chắn là đã đầy đủ nhưng tôi rất
mong Hartright có mặt ở đây để cho biết ý kiến của anh ấy! Theo yêu cầu của ông
Percival, bây giờ tôi phải giải thích cho Laura về lá thư của Anne Catherick.
Em lặng lẽ nghe không biểu lộ cảm xúc gì nhưng tôi để ý thấy bên cạnh tay em
đặt trên bàn là cuốn sách hội họa của Hartright. Tôi cũng phải nói cho em biết
lý do ông Percival tới đây là để xác định ngày hôn lễ.
“Chị e rằng ông ấy sẽ hỏi em để quyết định
ngay, Laura ” .
"Không đâu chị Marian, em
không thể làm thế được”, em đáp “Xin chị nói với ông ấy, van xin ông ấy cho em
thêm thời gian. Em hứa sẽ có câu trả lời cuối cùng trước cuối năm nhưng không
phải là bây giờ, em xin mà, không phải là bây giờ”.
Ông Percival đồng ý với yêu
cầu của Laura và khi ông Gilmore nghe được việc này, ông sắp xếp để nói chuyện
riêng tư với Laura.
“Ngày mai tôi phải trở về London", ông
nói với tôi “Tôi cần thảo luận với cô Fairlie về chuyện tài chính đối với cuộc
hôn nhân này trước khi tôi đi. Cô biết đấy, cô ấy sẽ được thừa kế một khoản
tiền lớn và tài sản khi cô tròn hai mươi ba tuổi vào tháng ba tới, tôi muốn đưa
cả việc này vào thỏa thuận hôn nhân theo cách nào đúng với nguyện vọng của cô
ấy và cũng được ông Percival chấp nhận”.
Sáng hôm sau, ông ta gặp Laura
và đến chiều ông ấy quay về London, trông ông có vẻ buồn và suy tư. Tự hỏi họ
đã nói gì với nhau, tôi vội chạy tới phòng Laura. “Sao Laura, có phải là việc
thỏa thuận hôn nhân không?”.
“Không, em không thể chịu nổi
ngay cả thảo luận về việc đó với ông Gilmore. Em thật xấu hổ mà nói là em chỉ
biết khóc. Ông ấy rất tốt bụng và tử tế. Marian, ông ấy nói ông ta sẽ chăm sóc
em. Không, những gì em muốn kể với chị là như thế. Em không thể chịu đựng được
nữa. Em phải chấm dứt tình trạng này thôi”.
Đôi mắt em bừng sáng và em nói
rất quyết đoán. Tôi bắt đầu cảm thấy có nguy cơ. “Có đúng là những gì em sẽ
thực hiện phải không, Laura thân yêu? Em có muỗn hoãn lại lời hôn ước với ông
Percival không?”.
“Không”, em trả lời ngắn gọn
“Em không thể thất hứa với cha em. Nhưng em muốn nói thật và em sẽ thú nhận với
ông Percival rằng em đã yêu người khác”.
“Laura, ông ấy không có quyền
biết mọi chuyện đâu”, tôi nói trong sửng sốt.
“Em không thể lừa dối ông ấy”, em đáp “Em đã
suy nghĩ rất kỹ. Rốt cuộc thì em sẽ nói với ông ấy và tùy ông ấy quyết định”.
Tôi nhìn vào đôi mắt thánh
thiện, đáng yêu của em và không thể nói gì. Tôi ôm choàng lấy em và cố giữ mình
đừng bật khóc.
“Có lẽ ngày mai em sẽ nói cho
ông ta biết trước sự hiện diện của chị, nhé chị Marian?”.
Tôi ôm chặt lấy em và đồng ý –
Dù rằng tôi không chắc là tôi làm thế là đúng. Quả thật, tôi không chắc chắn gì
cả. Tôi không thể hiểu nổi sao mà tôi đã không thấy được tình yêu sâu sắc của
em với Walter. Lần đầu tiên trong đời tôi đã phạm sai lầm với em. Giờ đây, tôi
thực sự nhận ra rằng em yêu anh ta suốt đời.
***
Việc đầu tiên xảy ra vào buổi
sáng hôm sau chẳng làm tôi vui hơn tý nào, tôi nhận được thư của Walter
Hartright. Anh ấy quyết định đi khỏi nước Anh và hỏi tôi xem có thể giúp anh ta
tìm việc ở nước ngoài không. Tôi cũng được báo biết rằng từ khi quay lại
London, anh ta không tìm thấy và cũng không nghe gì về Anne Catherick nhưng anh
ta nghi ngờ có người luôn theo dõi anh. Tôi rất lo cho tình trạng tinh thần của
anh, vì thế ngay lập tức tôi viết thư cho mấy người bạn cũ ở London nhờ họ kiếm
giúp anh ta việc làm thích hợp ở nước khác. Laura, tất nhiên không biết gì về
những lá thư này.
Ông Percival không gặp chúng
tôi trong bữa điểm tâm nhưng có gửi một bức thư nói rằng sẽ gặp chúng tôi lúc
mười một giờ, khi đã sẵn sàng. Laura tỏ ra bình tĩnh và cực kỳ tự chủ. Tôi chưa
từng thấy em như thế. Hình như tình yêu đã tạo nên sức mạnh cho em trở thành
con người khác.
Đúng mười một giờ, ông
Percival gõ cửa, bước vào với vẻ lo lắng, buồn phiền hằn trên khuôn mặt. Cuộc
gặp gỡ này sẽ quyết định cuộc sống tương lai của ông ta và ông ta biết chắc như
thế.
“Ông Percival. Có lẽ ông tự
hỏi rằng”, Laura nói một cách điềm tĩnh “Chắc là tôi sẽ nói rằng tôi hủy hôn
ước với ông. Tôi sẽ không nói như thế đâu. Tôi rất tôn trọng nguyện ước của cha
tôi”. Mặt ông ta có vẻ thư thái đôi chút nhưng tôi thấy chân ông ta đang nhịp
nhịp trên tấm thảm.
“Nếu chúng ta hủy kế hoạch về kết hôn thì hoàn
toàn do ý muốn của ông thôi, ông Percival, không phải do tôi”.
“Do ý tôi a” ông ta kêu lên
ngạc nhiên. “Lý do gì có thể làm tôi hủy cơ chứ?”.
“Một lý do rất khó nói”, em
trả lời “Có sự thay đổi nơi tôi”.
Mặt ông ta tái xanh đến nỗi
đôi môi trở nên bợt bạt. Ông ta nghiêng đầu qua một bên.
“Điều
gì thay đổi?”, ông ta hỏi, cố dấu nỗi bồn chồn.
“Hai
năm trước khi hứa hôn", em nói "Tôi không yêu ai cả. Ông sẽ tha
thứ cho tôi chứ, ông Percival, nếu tôi nói rằng giờ thì trái tim tôi đã theo
người khác".
Nước
mắt em rơi lã chã và ông Percival thì giấu mặt vào đôi tay nên không biết ông
ta nghĩ gì. Ông ta không trả lời, tâm trạng tôi thấy khá hơn.
"Ông
Percival!", tôi nói cứng rắn "Ông không có gì để nói sao? Ông đã được
nghe nhiều hơn những gì ông được quyền nghe".
"Nhưng
tôi đâu có đòi hỏi quyền đó đâu", ông ta nói, lảng tránh câu hỏi của tôi.
"Tôi
mong ông hiểu cho", Laura nói tiếp "Là tôi sẽ không bao giờ gặp người
ấy nữa và nếu vì điều đó mà ông bỏ tôi,
xin ông cho phép tôi sẽ sống đơn thân suốt đời. Tất cả những gì tôi mong là ông
hãy tha thứ cho tôi và giữ kín điều bí
mật này".
"Tôi
sẽ thực hiện cả hai việc cô nêu", ông nói. Sau đó ông nhìn Laura như muốn
nghe thêm em nói.
"Tôi
nghĩ tôi đã nói đủ những gì để ông có thể rút lại lời hứa hôn", em lặng lẽ
nói.
"Không,
cô đã nói đủ để làm nên mong ước thân yêu nhất của đời tôi là kết hôn với
cô", ông nói.
Laura
đã kêu lên ngạc nhiên, nhưng tôi còn ngạc nhiên gấp bội. Từng lời em nói đã cho
thấy sự trung thực, ngây thơ của em nhưng những phẩm chất tốt đẹp này lại phá
vỡ mong ước được giải thoát của em. Ông Percival đã hiểu rất rõ tính trung thực
và trong trắng của người phụ nữ là vô giá. Thế thì vì sao ông ta tha thứ cho
em?
"Tôi
sẽ làm tất cả những gì để chiếm được tình yêu của em", ông nói "Có lẽ
lúc nào đó tôi sẽ đạt được".
"Không
bao giờ!", em trả lởi, trông em đẹp hơn bao giờ hết. "Tôi sẽ là người
vợ chung thủy nhưng không bao giờ là người vợ yêu ông".
"Thế
đã là quá đủ cho tôi. Tôi chấp nhận lòng chung thủy và trung thực của em",
ông nói, sau đó nâng tay em lên, áp đôi môi của ông vào và lặng lẽ rời khỏi
phòng.
Laura
ngồi bất động. Tôi choàng tay ôm lấy em. Cuối cùng, em nói "Em phải từ bỏ
chính em, Marian. Nếu chị có viết thư cho Walter, đừng kể về nỗi đau buồn của
em. Và nếu em chết trước, xin hãy nói cho anh ấy biết những gì em đã không thể
nói, em yêu anh ấy".
***
Những
ngày sau đó, dường như chẳng còn điều gì có thể ngăn cản được cuộc hôn nhân bất
hạnh này. Tôi cố làm cho Laura thay đổi tư tưởng nhưng cô đã xác định là phải
giữ lời hứa và có nghĩa vụ phải thực hiện. Ông Faitlie, dĩ nhiên là rất vui vẻ
rằng "nỗi phiền toái gia đình" nay đã kết thúc và giả định rằng cô
cháu gái sẽ tốt hơn sau khi lập gia đình. Tôi rất tức giận với việc này nhưng
khi tôi nói với Laura, tôi ngạc nhiên là cô đáp lại bằng sự câm lặng.
"Chú
em nói đúng đấy. Em là nguyên nhân của những buồn lo cho mọi người. Hãy để ông
Percival quyết định ngày cưới".
Ông Percival rất vui sướng
với tin này và sao đó ông quay về để chuẩn bị đón dâu tại nhà ông ở Hamsphire.
Tôi
nghĩ thay đổi không khí sẽ tốt cho Laura nên tôi đã sắp xếp cho cả hai chúng
tôi một chuyến đi thăm các bạn cũ của tôi ở Yorkshire. Em đồng ý với ý tưởng
của tôi một cách thụ động. Tôi cũng viết thư cho ông Gilmore, nói cho ông biết về đám cưới sẽ diễn ra.
Ngày
kế tiếp, tôi nhận được thư của Walter Hartright kể rằng anh đã kiếm được việc
trong một đoàn thám hiểm đến trung tâm Nam Mỹ. Anh ta là họa sỹ của Đoàn. Anh
ta đã đi từ ngày 21 tháng mười một và sẽ ra đi trong sáu tháng. Tôi chỉ có thể
cầu mong mọi sự tốt lành.
Sau
đó tôi và Laura khởi hành tới Yorkshire nhưng chỉ sau chín ngày ở đấy, chúng
tôi nhận được thư của ông Fairlie, bảo chúng tôi phải quay về Limmeridge ngay.
Tôi tự hỏi, có ghuyện gì vậy?
Chẳng
bao lâu khi quay về thì tôi đã rõ. Ông Fairlie và ông Percival đã thống nhất
hôn lễ sẽ tiến hành vào ngày 22 tháng 11 với điều kiện là Laura cũng đồng ý. Ông ta nhờ tôi vui lòng
thuyết phục Laura. Đầu óc ông ta tệ quá, tự ông không nói với Laura được.
Tôi
cũng gặp ông bạn thân của chúng tôi, ông Gilmore, ông đã đến nói chuyện với ông
Fairlie về thỏa thuận hôn nhân. Ngày hôm ấy ông quay về và nói chuyện riêng với
tôi với vẻ đầy âu lo.
"Tôi
không vui chút nào về việc thỏa thuận chuyện tiền nong trong hôn ước này, cô
Halcombe à", ông nói "Nhưng tôi không thể làm gì được. Tôi biết cô
thương cô em lắm và tôi thiết nghĩ cô cũng nên biết vì sao tôi bận tâm".
"Cô
sẽ phải biết đều này", ông nói tiếp "Thừa kế của cô Fairlie (Laura)
gồm có ba điều khoản, điều trước tiên khi ông Fairlie mất, cô được thừa hưởng
toàn bộ của cải và đất đai ở Limmeridge và cả thu nhập từ khoản này. Nếu cô mất
mà không có con thì tài sản được giao cho ông chú nhưng thu nhập từ tài sản sẽ
được người chồng hưởng suốt đời. Nếu cô có con trai thì mọi thứ, thu nhập, của
cải người con sẽ hưởng tất. Điều này không có vấn đề gì".
'Thứ
hai, khi cô Fairlie tròn hai mươi mốt tuổi vào tháng ba tới, cô sẽ được nhận
khoản lợi tức là 10.000 bảng. 10.000 bảng này sẽ do bà dì Eleanor hưởng nếu cô
mất trước bà dì – điều này rất khó xảy ra. Lý do cha cô Fairlie không để lại
10.000 bảng cho chị của ông là bà Eleanor khi ông mất là vì ông rất không tán
thành cuộc hôn nhân của bà với một quý tộc Ý, bà tước Fosco".
"Vâng,
Laura cũng kể cho tôi hay như thế", tôi đáp.
"Vậy
à! Ông Gilmore tiếp tục "Hai điều trên không có vấn đề gì, nhưng khoản thứ
ba của bản thừa kế thì khó khăn hơn. Vào tháng ba tới, cô ấycũng được nhận
khoản 20.000 bảng, hoàn toàn là tiền của cô ấy. Nếu cô mất trước chồng thì tiền
lãi của 20.000 bảng này sẽ thuộc về ông chồng suốt đời và phần gốc sẽ thuộc về
con cái họ. Nếu họ không có con để hưởng khoản thừa kế vốn này, cô Fairlie có
thể chọn một người họ hàng và bạn bè để nhận khi cô mất. Đó là những gì tôi đề
nghị nhưng luật sư của ông Percival không chấp nhận. Ông ta yêu cầu là nếu ông
Percival còn sống cùng vợ và không có con thì ông ta nên được nhận phần vốn.
Trong trường hợp này thì sẽ không có thành viên trong gia đình được thừa hưởng,
kể cả cô, cô Halcombe".
Ông
Gilmore thở dài "Tôi kịch liệt phản đối. Tôi đã cố gắng thỏa thuận hết sức
nhưng không thể lay chuyển được ý chí của ông luật sư. Tôi đã khám phá ra, cô
biết đấy, ông Percival luôn nợ ngập đầu và rất cần tiền mặt. Nỗ lực cuối cùng
của tôi khi tới đây là cố thuyết phục ông Fairlie là phản kháng lại những yêu
cầu của luật sư của ông Percival. Tôi rất buồn phải nói là tôi đã không thành
công. Ông Fairlie chỉ mong lảng tránh mọi trách nhiệm đối về thỏa thuận hôn
nhân của cô cháu gái. Ông ấy nói rằng chẳng bao giờ cô cháu lại mất trước ông
Percival đâu, có gì mà phải suy nghĩ?".
Ông
Gilmore đứng dậy ra đi và cầm lấy cái mũ "Tôi sẽ hoàn tất bản thỏa thuận
và gửi đi. Tôi không có chọn lựa nào khác, tôi không làm việc đó được đâu, ông
Fairlie phải tìm luật sư khác thôi. Nhưng tôi nói với cô điều này, cô Halcombe,
không có con gái của tôi lại kết hôn với bất kỳ đàn ông nào để sống dưới sự thỏa
thuận như kiểu tôi đã bị phải làm đối với cô Fairlie".
Thế
rồi ông bắt tay tôi, không nói một lời, ông đón chuyến tàu trở về London.
Sau
khi ông đi, Tôi cố gắng nhân nhượng. Ông Fairlie là giám hộ của Laura và một
khi ông đã lựa chọn thỏa thuận như thế thì tôi chẳng thể làm gì được nữa. Lại
thêm một nỗi buồn phiền cho cuộc hôn nhân tồi tệ này. Một nỗi lo tức thời nữa
là hẹn ngày hôn lễ. Khi tôi nói với Laura, em tái xanh và run rẩy.
"Đừng
vội vậy", em kêu lên "Ôi Marian, đừng vội thế".
"Được,
vậy thì hãy để chị nói với ông Fairlie", tôi nói. Tôi đã sẵn sàng làm trái
lại ý em. "Chị sẽ cố thay đổi lại".
"Không",
em kêu lên nột cách yếu ớt "Quá trễ rồi chị Marian, quá trễ rồi! Như thế
chỉ làm mọi việc tồi tệ hơn thôi. Xin chị hãy nói với chú em là em đã đồng
ý".
Nếu
không đang quá tức giận, tôi nghĩ tôi đã bật khóc. Tôi vội tới phòng ông
Fairlie và thét lớn "Laura đã đồng ý cưới vào ngày hai mươi hai – và quay
vội khỏi phòng, dập cửa thật mạnh. Tôi mong tôi đã phá nát thần kinh của ông trọn
ngày nay.
***
Sau
đó việc chuẩn bị cho đám cưới bắt đầu. Thợ may tới lui suốt ngày; đóng gói đồ
đạc, sắp xếp kế hoạch và mọi việc theo sự thỏa thận. Hàng ngày chúng tôi nghe
ngóng từ ông Percival. Sau đám cưới, ông ta sẽ đề nghị đưa Laura đến Ý trong
sáu tháng. Họ sẽ gặp gỡ với một số bạn bè ông Percival ở đấy, trong đó có người
bạn tốt và thân thiết nhất của ông ;à bá tước Fosco và tất nhiên là cả vợ ông
ta nữa, chính là bà dì Eleanor của Laura. Chí ít thì cuộc hôn nhân cũng mang
lại cho Laura và người dì được bên nhau, tôi nghĩ thế. Tự thân ông bá tước cũng
được đánh giá là một người rất thú vị, tôi mong ngày nào đó sẽ được gặp ông.
Ngày tháng trôi qua nhanh
quá. Ông Percival đến, trông có chút mệt mỏi, âu lo nhưng vẫn nói cười như một
người hạnh phúc nhất. Tối hôm sau, ông dạo quanh làng và dò hỏi có ai biết tin
gì về Anne Catherick không. Không ai nghe thấy gì nhưng tôi thừa nhận là đó là
thiện ý của ông ta trong việc cố giúp cho cô ta.. Tôi quyết định sẽ cố nghĩ tốt
về ông ta. Nói cho cùng thì lấy lý do gì để không tin tưởng ông ta cơ chứ? Tôi
chắc chắn là có thể thích ông ta nếu tôi thực sự cố gắng.
Hoàn
toàn dễ dàng để có thể thích ông ấy. Hôm nay tôi nói với ông về mong ước lớn
nhất của tôi và Laura là được sống bên nhau sau đám cưới như vẫn sống với nhau
trước đây. Ông đồng ý ngay và tỏ ra thú vị với đề xuất này. Tôi sẽ là người bạn
đồng hành hoàn hảo, lý tưởng của vợ ông, ông ta nói. Vâng, tôi đã bắt đầu thấy
mến ông Percival nhiều hơn.
***
Tôi
ghét ông Percival! Con người vô cảm, vô nhân hậu, xấu tính. Đêm qua ông ta thì
thầm điều gì đó vào tai Laura – mà em từ chối không kể cho tôi – và mặt em trở
nên trắng bệch đầy đau khổ. Ông ta không để lộ ra điều gì cả và nỗi nghi ngờ
của tôi quay trở lại. Có phải ông ta đang đóng vai người tốt? Ông trông kém thư
thái, nóng nảy hơn trước và thường xuyên cọc cằn, cáu bẳn. Tôi có ý nghĩ lạ là
có lẽ đã có điều gì xảy ra làm ngăn trở đến việc kết hôn – và đó là điều làm
ông lo sợ. Thật là một ý nghĩ ngôc nghếch. Tôi phải quên nó đi thôi.
Khi
ngày chia tay đến gần, Laura không thể chịu nổi việc sẽ không còn thấy tôi nưa.
Tôi phải tỏ ra can đảm và vui vẻ cho em vui nhưng nỗi lo sợ của tôi không tan
biến. Phải chăng cuộc hôn nhân này là một sai lầm khủng khiếp của đời em và là
nỗi thất vọng đau buồn của đời tôi?
***
Ngày
hai mươi mốt. Không còn thời gian cho những giòng lệ rơi nữa. Laura được trang
điểm và chúng tôi kéo nhau đến nhà thờ. Đúng mười một giờ tiến hành hôn lễ. Ba
giờ, họ ra đi. Tôi khóc ngất và không còn thấy gì nữa và không thể viết thêm gì
nữa...
5
Ký giấy
tờ
Sáu
tháng dài lê thê quạnh quẽ trôi qua, tôi chỉ có một việc nhỏ để làm là nghĩ về những
người thân yêu đã ra đi. Tôi nhận được lá thư vui vẻ của Walter Hartright trước
lúc anh kết thúc chuyến thám hiểm trong rừng và anh ta đã đến nước Honduras. Kể
từ sau đó, tôi không nghe thêm tin tức gì nữa. Cũng không có tin tức gì của Anne Catherick hay bà Clements. Ông
Gilmore tội nghiệp ốm nặng và phải nghỉ việc nhưng công việc của ông vẫn được
đối tác của ông là ông Kyrle tiếp tục. Bà Vesey chuyển tới London sống với cô
em.
***
Ngày 11 tháng sáu tôi đến
Blackwater Park, nhà của gia đình ông Percival ở Hampshire. Kết thúc bao ngày
chờ đợi và tôi vui mừng khôn xiết! Ngày kế tiếp, Laura và chồng sẽ quay về nhà
cùng với ông bá tước Fosco và vợ, họ sẽ cùng nghỉ hè tại Blackwater.
Buổi sáng, người giúp việc, bà
Michelson, dẫn tôi xem quanh nhà. Nó rất cũ, đầy bụi bặm và ít được dùng; chỉ
một phần của tòa nhà to lớn này là đủ tiện nghi để sử dụng.
Sau đó tôi khám phá khu vườn và vườn hoa. Khu vườn nhỏ bé và không được
chăm sóc tốt, có rất nhiều cây cối đến nỗi ngôi nhà như bị nuốt chững. Tôi tìm
thấy con đường nhỏ băng ngang qua vườn cây đưa tới hồ nước cách đấy khoảng nửa
dặm. Đó là một nơi ẩm thấp, vắng vẻ. Mặt nước hồ đen tối và bóng của những cây
cao làm không khí nơi này u ám. Gần bên hồ, có một nhà thuyền cũ kỹ, bên trong
có vài chiếc ghế, tôi đi vào bên trong và ngồi xuống nghỉ một lát.
Tôi không phải là người yếu
bóng vía nhưng khi nghe tiếng thở dồn dập dưới chiếc ghế, tôi giật mình nhảy
dựng lên. Thì ra đó là một con chó – một con chó nhỏ màu đen xen trắng bị một
vết đạn bắn. Tôi mang con vật tội nghiệp ấy về nhà và giao cho bà Michelson
giúp tôi.
Khi bà tới và thấy con chó nằm
trên sàn nhà, lập tức bà kêu lên "Ôi, Nó hẳn là con chó của bà Anne
Catherick!".
"Của ai cơ?", tôi
kêu lên ngạc nhiên.
"Của bà Anne Catherick. Cô
có biết bà ta không?" bà ta tới đây để thăm dò tin tức cô con gái".
"Khi nào?".
"Ngày hôm qua. Bà ấy nghe nói là cô con gái Anne ở ngay nhà hàng
xóm. Nhưng không ai biết gì cả. Tôi đoán con chó chạy qua vườn cây và bị người
giữ vườn bắn". Tôi cố giữ giọng nói quan tâm một cách lịch sự "Tôi
nghĩ bà có biết bà Catherick vài năm nay phải không?"
"Ồ, không đâu cô Halcombe, trước đây tôi chưa từng biết bà ta. Bà
ta sống ở Welmingham, cách đây hai mươi lăm dặm. Tôi có nghe về bà ta là do ông
Percival đã trả tiền cho việc đưa con gái của bà ấy vào nhà thương điên. Nhưng
ngày hôm qua, bà Catherick nói tôi đừng cho ai biết việc bà tới thăm ông
Percival. Thật là chuyện vớ vẩn chẳng đáng nói phải không cô?".
Chuyện vớ vẩn, thực thế! Nhưng rồi sau đó chúng tôi quay sang quan tâm
đến con chó tội nghiệp, bất chấp nỗ lực của chúng tôi, nó chết ngay sau đó. Đó
là điều buồn phiền đầu tiên khi tôi tới Blackwater.
***
Sau buổi tối đó, những người
ra đi quay trở về. Sau niềm vui đầu tiên của tôi là gặp lại Laura, tôi cảm thấy
có điều gì khác lạ giữa chúng tôi và tôi nhận ra em đã thay đổi. Tôi chắc chắn
chẳng bao lâu nữa chúng tôi sẽ trở lại bình thường như ngày xưa nhưng em đã mất
đi nét ngây thơ, cởi mở. Em không sẵn lòng nói về cuộc sống sau hôn nhân của em
và tôi thấy giữa em và chồng không có cảm tình nồng ấm. Rồi chẳng bao lâu sau
đó, em hỏi tôi về Walter – Chị có nghe gì về anh ấy không? Anh ấy có mạnh khỏe
và vui vẻ không? – Rõ ràng là em yêu anh ấy sâu đậm mãi mãi.
Về phần ông Percival, tính khí
càng khó chịu và cau có hơn. Khi gặp lại nhau, ông ta chỉ nói một cách đơn giản
"Chào cô Halcombe, rất vui được gặp lại cô" và sau đó đi băng qua
tôi. Những việc nhỏ như thấy thể hiện rõ tính cách của ông. Ví dụ như bà quản
gia báo với ông tuần trước có người đàn ông nào đó gọi điện cho ông nhưng không
cho biết tên. Ông ta yêu cầu phải mô tả rõ người mà bà đã không thể biết này và
ông Percival đã quát tháo và ra khỏi phòng trong cơn giận dữ rất dữ dội.
Laura đã nói rất đúng về bà
Fosco. Tôi chưa từng thấy người đàn bà nào biến đổi như thế. Khi đóng vai là
Elearno (thì bà trông như ba mươi bảy tuổi), bà ta mặc quần áo sáng màu, ngờ
nghệch và ngốc ngếch và luôn nói tầm phào. Khi đóng vai là bà Fosco (thì bà trông
như bốn mươi ba tuổi) bà chỉ mặc toàn đồ xám hoặc đen, ngồi yên lặng hàng giờ,
khâu vá hay cuốn thuốc lá cho ông chồng bá tước hoặc nhìn ông ta với ánh mắt
của một con chó trung thành.
Thế người đàn ông này là người
như thế nào mà có thể gây nên sự biến đổi khác thường, đã thuần hóa được người
đàn bà Anh hoang dã như thế? Vâng, Tôi có thể nói gì về ông bá tước đây? Ông ta
trông như loại người có thế chế ngự được mọi chuyện. Nếu ông ta cưới tôi, chắc
là tôi cũng sẽ cuốn thuốc lá cho ông như vợ ông thôi. Tôi cũng sẽ giữ mồm miệng
khi ông ta nhìn tôi như bà vợ ông thôi.
Làm thế nào tôi có thể giải
thích được sức mạnh, sức lôi cuốn và quyền lực của người đàn ông này? Ở ông ta
có rất nhiều điều khó ưa và kém lôi cuốn. Ví dụ như ông ta rất to béo, mái tóc
rất xấu xí; ông ta ít nhất đã sáu mươi tuổi. Ông ta lười biếng, ưa chuyển giọng
đột ngột và có tình yêu đặc biệt với loài vật. Ông ta mang theo rất nhiều loài
chim và toàn bộ cả một gia đình chuột bạch, thường xuyên hôn hít chúng và gói
chúng bằng những cái tên trìu mến như thể trẻ con vậy.
Và còn nữa, còn nữa...Ông ta
to béo nhưng di chuyển rất nhẹ nhàng và dễ dàng như nhảy múa vậy. Khuôn mặt
nhẵn nhụi, trơn bóng của ông toát lên vẻ bình tĩnh và đầy sức mạnh và giọng nói
của ông nhẹ nhàng, thuyết phục, khó lòng cưỡng lại được. Kiến thức tiếng Anh
của ông thật hoàn hảo, ông ta là một chuyên gia hiểu biết rất sâu về dược học.
Ông ta nói giỡn với lũ chuột bạch bằng giọng trẻ con nhưng nói về sách bằng mọi
thứ tiếng với giọng thông thái và quyến rũ và truyền đạt kinh nghiệm sống trên
tại một nửa số thủ đô của Châu Âu.
Nhưng tôi luôn nhớ mãi cặp mắt
của ông ta – lạnh lẽo, trong vắt, xám đẹp, đôi mắt như ẩn chứa sức mạnh đáng sợ
mà đến giờ tôi vẫn còn rùng mình khi nghĩ đến.
Tôi tìm hiểu được rất ít về
quá khứ của ông Percival. Tôi chỉ biết rằng ông ta đã không sống ở Ý trong
nhiều năm; tôi tự hỏi liệu có phải vì lý do chính trị. Hình như ông ta có lần
đã cứu ông Percival thoát khỏi cơn nguy hiểm ở Rome và từ đó họ kết thân với nhau.
Dễ thấy là ông Percival luôn lo liệu để làm vừa lòng ông ta và chả bao giờ dám
phản đối ý muốn của ông ta.
Tôi tự hỏi phải chăng tôi cũng
ngán sợ ông ta. Tôi chắc chắn chưa thấy người đàn ông nào gây cho tôi nhiều ác
cảm như kẻ thù như thế.
***
Vào bữa trưa, vài ngày sau hôm
họ trở về, một người đàn ông được gọi là Meriaman đến, đòi gặp ông Percival
ngay. Ông Percival rõ ràng là không trông đợi cuộc viếng thăm này và trông cả
hai đều hoảng hốt và giận dữ khi ông ta rời khỏi bàn. Cả Laura và tôi đều không
biết tý gì về ông Merriman nhưng ông bá tước cho chúng tôi biết đó là luật sư
của ông Percival. Tôi tự hỏi đã xảy ra việc gì khi mà ông luật sư rất ít khi đi
từ London đến Hamsphire mà chỉ gửi thư. Chắc hẳn ông Merriman là người mang đến
những tin tức quan trọng – hoặc rất rất tệ.
Bá tước Fosco chắc chắn đọc
được ý nghĩ của tôi và nhẹ nhàng nói với tôi: “Vâng, chắc có chuyện gì xảy ra,
cô Halcombe”.
Ngày hôm sau, khi đang đi từ
phòng ra, tôi thấy ông Percival và ông luật sư đi băng ngang qua phòng khách
dưới lầu. Họ nói với nhau thì thầm nhưng cũng đủ lọt vào tai tôi.
“Phải, ông Percival”. Tôi nghe
ông luật sư nói. “Hoàn toàn phụ thuộc vào bà Glayde. Ngay lập tức tức tối dừng
chân khi nghe thấy tên Laura, mặc dầu tôi biết làm như thế là không đúng, để tiếp
tục nghe lén.
“Ông
biết đấy, ông Percival. Phu nhân Glyde phải ký tên là một trong hai người
chứng. Nếu làm xong việc này trong tuần, mọi chuyện sẽ rất ổn. Nếu không, có lẽ
tôi chỉ có thể tác động họ chấp nhận chứng thư hứa thanh toán trong vòng ba tháng.
Nhưng làm sao chắc chắc có được tiền sau đó…”
Họ đi vào phòng thư viện và
tôi không nghe được gì nữa, nhưng hình như ông Percival mắc nợ nghiêm trọng và
giải pháp giải quyết phụ thuộc vào Laura. Ngay lập tức tôi đi nói cho Laura
những gì tôi nghe. Em có vẻ như không hề ngạc nhiên.
“Em đã
lo sợ những điều kiểu như thế”, em nói “Khi em nghe về những quý ông lạ được
gọi bằng họ chứ không phải bằng tên. Chồng em có lẽ sẽ đến để nói về tiền bạc.
Nhưng đừng lo chị Marian, em sẽ không ký tá bất kể điều gì để sau này phải hối
hận.
Chiều hôm ấy ông Percival tỏ
ra lịch sự và vui vẻ một cách bất thường với tất cả chúng tôi. Điều này nghĩa
là gì vậy? Tôi nghĩ tôi đoán được – tôi e rằng Laura cũng đoán ra – và tôi biết
chắc là ông bá tước cũng biết. Tôi thấy ông Percival hơn một lần nhìn vào ông
bá tước mong tìm sự đồng thuận trong suốt buổi tối. Ông bá tước chắc chắn nhận
ra vấn đề tài chính của ông Percival.
Sáng hôm sau ông Percival mời
ông bá tước, Laura và tôi đến thư viện ít phút sau bữa trưa để có chút việc về
tiền bạc. Trước bữa trưa, chúng tôi đi bộ đến hồ nước và dừng chân ở nhà thuyền
nghỉ một lát.
“Có người bảo hồ rất đẹp” ông Percival chỉ vào quang cảnh phía trước nói “Tôi thì nói là nó xấu tệ. Hệt như sào huyệt của bọn sát nhân, phải không? Ông nghĩ sao ông Fosco?”.
“Ông Percival thân mến”, ông bá tước phản đối
“Nước hồ rất cạn không giấu xác người được. Chỉ có đồ ngớ ngẩn mới giết người ở
đây. Kẻ khôn ngoan sẽ chọn chỗ khác”.
“Người
khôn ngoan thì sẽ không giết người”, Laura nói, nhìn vào ông ta với vẻ ác cảm.
“Tôi chắc chắn ông sẽ không thể đưa ra một ví dụ nào về người khôn ngoan lại đi
gây tội ác”.
“Phu nhân thân mến”, ông bá
tước nói “Không thể nào đưa ra được ví dụ vì tội ác của kẻ khôn ngoan gây ra sẽ
không bao giờ bị phát hiện cả”.
Khi nói, ông ta nghịch đùa với
con chuột bạch trong chiếc hộp nhỏ và đột nhiên lưu ý thấy thiếu mất một con.
Vài giây sau, ông tìm thấy nó dưới chiếc ghế nhưng đồng thời cũng tìm thấy thứ
gì đó có vẻ làm ông ta bị sốc.
“Percival”,
ông nói “Tới đây, nhìn xem trên cát có vết máu này”.
Mọi người có vẻ hoảng sợ, vì
thế tôi phải giải thích về con chó bị thương mà tôi đã phát hiện ra.
“Chó của ai vậy?”, ông
Percival hỏi.
“Bà quản gia nói là chó của bà
Anne Catherick”, tôi trả lời và nhớ rằng qúa trễ để giữ bí mật.
“Con mụ khốn kiếp làm gì ở đây?”.
Câu hỏi rất thô lỗ và cọc cằn
như thế khiến tôi phải quay mình lại. Ông bá tước đặt bàn tay lên cánh tay của
ông Percival.
“Bạn Percival thân mến, nhẹ
nhàng nào! Yên nào!”
Hết sức ngạc nhiên, ông
Percival xin lỗi tôi và rồi ông bá tước nói “Sao không đến hỏi bà quản gia nhỉ,
ông Percival? Bà ta có vẻ biết chuyện đấy”.
Ông Percival nắm ngay điều này
và ngay lập tức chúng tôi quay về nhà.
Khi chúng tôi quay về nhà, ông Percival đến thăm chúng
tôi. “Tôi xin lỗi tôi phải từ giã cô. Tôi phải lái xe trên quãng đường rất dài
và sẽ không quay về trước ngày mai. Trước tiên, tôi rất muốn kết thúc chút việc
nhỏ này. Cô vui lòng đến thư viện hé? Chỉ mất vài phút thôi.
Trong thư viện, ông ta lấy từ
trong tủ một thứ giấy tờ và đặt lên bàn. Tờ giấy được gấp lại che kín nội dung
viết và chỉ chừa chỗ ký tên.
Đưa tận tay cây bút cho Laura,
ông ta nói, “Em ký vào đây, còn cô và ông bá tước sẽ ký sau cô Halcombe”.
“Anh muốn em ký cái gì vậy?”,
Laura khẽ hỏi.
“Anh
không có thời gian giải thích, anh phải đi ngay. Chỉ là công việc thôi”, ông ta
cáu kinh nói.
“Đàn bà không cần biết đến
công việc làm gì, cứ ký đi”.
“Nhưng chắc là em cũng nên
biết em ký cái gì chứ”.
“Anh hiểu. Thế nghĩa là em
không tin tôi chứ gì! Phải không?” Có cái kiểu vợ gì như thế không?”.
Để giúp em, tôi nói “Tôi e
rằng tôi không thể là người chứng đâu nếu cô ấy không biết cô đang ký cái gì”.
Ông Percival quay sang tôi hằn
học “Cô dám như thế hả! cô chỉ là khách trọ trong nhà tôi thôi thế mà cô lại
đứng về phía vợ tôi để chống lại tôi”.
“Kiềm chế cái tính khí bất
hạnh của anh lại đi anh Percival”, ông bá tước nói và tôi nghe ông ấy nói khẽ với
ông Percival “Anh là đồ ngu!”.
Nhưng rồi Laura đặt cây bút
xuống và đẩy về phía tôi.
“Glyde phu nhân đúng đấy”, ông
bá tước nói. “Việc ký tá hãy để đến ngày mai hoặc là…” Ông ta trao cho bà vợ
một cái nhìn sắc lạnh và rồi bỏ ra ngoài.
Khi Laura và tôi ra tới cửa,
ông bá tước tiến lại gần chúng tôi. “Các cô đã
chứng kiến ông Percival nổi cơn rồi đấy” , ông nói “Nhân danh bạn thân
của ông ấy, tôi xin lỗi và hứa ông ấy sẽ không cư xử kiểu như sáng nay nữa”.
Tôi bắt đầu nhận ra rằng giờ
đây tôi không thể tồn tại ở Blackwater Park nếu không có sự ảnh hưởng và hỗ trợ
của ông bá tước. vì thế tôi đã nhiệt tâm cám ơn ông. Sau đó tôi đưa Laura về
phòng tôi nghỉ ngơi.
Trong khi chúng tôi ở đây, em
đã kể cho tôi nghe ông Percival đã độc ác với em như thế nào kể từ khi kết hôn
và em đã chịu bất hạnh ra sao. Tôi cố sức trấn an em và tìm giải pháp để giải
quyết vấn đề ký ta này. Đột nhiên tôi nảy ra ý tưởng viết thư cho cộng tác của
ông Gilmore, ông Kyrle, và xin ông ta lời khuyên. Trong thư, tôi cũng đề nghị
ông giao cho bưu tá thư trả lời vào lúc một giờ ngày hôm sau. Tôi bỏ lá thư vào
túi thư trong phòng khách. Một lát sau, bà Fosco xuất hiện và đề nghị nói
chuyện với tôi ở ngoài vườn. Bà ta nói chuyện với tôi suốt nửa giờ về việc bà
ta hoàn toàn ủng hộ tôi. Tôi thấy thực là chuyện vớ vẩn, từ trước đấy bà ta có
bao giờ có chút quan tâm nào đến tôi đâu.
Cuối cùng thì khi tôi quay về,
tôi thấy ông bá tước cũng bỏ vào túi thư một lá thư. Vì vài lý do, tôi quyết
định kiểm tra lại lá thư đã được dán kín của tôi, vì thế tôi lấy nó ra khỏi túi
thư. Thật may mắn, tôi phát hiện phong bì đã bị mở ra. Thật kỳ lạ, tôi nghĩ.
Chắc hẳn là có chuyện không ổn rồi
Hoặc
là chắc hẳn là…
6
Buổi hẹn bên hồ
Sau
bữa tối chiều hôm ấy, Laura và tôi đi bộ xuống hồ. Không khí tối tăm và buồn
thảm nhưng chí ít chúng tôi ở bên nhau.
“Em
chẳng có bí mật gì với chị cả, Marian ạ”, Laura nói “Nhưng chắc rằng chị sẽ ngờ
ngợ vì sao em lại lấy một người như thế. Ngài Percival đã ăn nói với em những
điều rất tàn nhẫn ở Italia đến nỗi em chỉ biết an ủi bằng ký ức những ngày hạnh
phúc với Walther Hartright. Và em phải nói với chị marian, Percival đã biết
người em yêu là anh Walter”.
Tôi
nhìn thẳng vào cô và những niềm hy vọng nhỏ nhoi của tôi đã chết.
“Tại một buổi tiệc ở Rome. Có vài người đến từ
London bảo rằng em nên học vẽ và giới thiệu … ông Hartright. Em không thể kiểm
soát nổi mình khi nghe tên anh ấy và chồng em đã lưu ý thấy. “Là anh ta phải
không?” ông ấy hỏi với nụ cười kinh khủng. “Vâng rồi chúng ta sẽ thấy về ông
Hartright. Em sẽ hối tiếc, hắn ta cũng thế, đến hết đời. Chị Marian, ông ta sử
dụng việc nắm biết này như một ngọn roi để trừng phạt em hết ngày này sang ngày
khác”.
“Ôi
Laura", tôi nói, ôm choàng lấy em. Đây là sai lầm của tôi – vâng, sai lầm
của tôi, tôi nhớ khuôn mặt trắng bệch thất vọng của Walter khi tôi nói anh ấy
đi khỏi, tôi đã xé nát con tim tươi trẻ. Và tôi phải làm như thế với Percival
Glyde.
Phải,
với chính Percival Glyde.
***
Khi
chúng tôi chuẩn bị về nhà trời đã tối xẫm và khi trở về, Laura chợt nắm chặt
tay tôi nói chị Marian nhìn kìa. Bên hồ có một bóng đen ẩn hiện trong đám sương
mù trên mặt hồ. Chúng tôi bắt đầu rảo bước.
“Em
chắc là nó đi theo chúng ta”, Laura thì thầm. “Là đàn ông hay đàn bà vậy?” cô
run rẩy sợ hãi.
Tôi
nói “chập chờn thế này thì khó mà biết được" và rồi tôi cất tiếng gọi: “Ai
đó?”. Không có tiếng trả lời.
Chúng
tôi vội vã băng qua rặng cây và khi chúng tôi vào nhà tôi đưa Laura lên lầu và
thấy mọi người đang ở đây. Ông bá tước và vợ, những gia nhân, người quản gia –
tất cả đều ở đấy. Vậy thì bóng đen bên hồ không phải là người trong số này. Vậy
thì có thể là ai?
Ngày
hôm sau Laura nhận thấy cô đã bị mất chiếc vòng xuyến và nghĩ hẳn nó bị rơi gần
hồ nước. Cô đi kiếm trong lúc tôi đợi người đưa tin của ông Kyrle.
Đến
một giờ. Lúc này tôi rất nghi ngờ mọi người trong nhà nên tôi quyết định lẻn ra
ngoài để chính mình gặp người đưa tin. Hết sức cẩn thận để khỏi bị thấy, tôi đi
xuống cổng chính và đi dọc theo lối nhỏ bên con đường. Chẳng bao lâu một chiếc
xe xuất hiện. Tôi ngăn xe lại và nói: “Có phải anh định tới Blackwater Park
không?”.
Một
người đàn ông thò đầu ra và nói “Phải, tôi gửi một lá thư cho cô Halcombe”.
“Anh
có thể đưa cho tôi”, tôi nói “Tôi chính là Halcombe đây”
Tôi
nhanh chóng đọc lá thư.
Thưa cô Halcombe – Thư của cô làm
tôi lo lắng lắm. Dường như rất cần chữ ký của phu nhân Glyde để vay nợ lấy từ
một phần hoặc toàn bộ khoản 20.000 bảng của cô ấy để dùng cho ông Percival. Đây
là điều hầu như phi pháp bà Glyde không nên ký bất kỳ giấy tờ gì cho đến khi
tôi kiểm tra xong.
Ông
bá tước đã nói rất nhẹ nhàng về điều này điều nọ và không hỏi gì về thư của
người đưa tin, vì thế tôi ngờ rằng ông ta đã biết hết mọi chuyện. Hẳn là ông ta
đã đọc lá thư của tôi rồi mới bỏ lại túi thư và giờ đã biết tôi đã nhận được
thư hồi đáp. Chả việc gì phải lừa dối ông ta vì thế tôi không nói gì cả, và cố
gắng giữ bình thường, trầm tĩnh.
Quay
lại nhà chúng tôi thấy Percival cũng đã quay về với tâm trạng tồi tệ còn hơn
trước. Khi tôi nói với ông rằng Laura ra ngoài kiếm chiếc vòng xuyến, ông ta
gầm lên:
“Vòng
xuyến với chả vòng xuyến, tôi phải gặp cô ta ở thư viện trong vòng nửa giờ
nữa”.
Tôi
quay vào nhà nhưng nghe thấy tiếng ông bá tước nói với ông Percival sau lưng
tôi “Tôi nói điều này với ông 5 phút ngay tại bãi cỏ này được không?”
Họ
sóng bước cùng nhau và tôi đi vào phòng khách suy nghĩ về mọi việc đã xảy ra.
Sau một lúc, cánh cửa nhẹ nhàng mở ra và ông bá tước bước vào.
“Có
tin tốt lành đây, cô Halcombe”, ông ta nói “Việc ký tá chỉ một lát nửa sẽ thôi
ngay. Tôi chắc rằng cô thấy nhẹ nhõm” .
Ông
ta bước ra trước khi tôi hết ngạc nhiên. Không còn nghi ngờ gì rằng sự thay đổi
này do sự ảnh hưởng của ông ta. Việc ông ta khám phá ra tôi đã viết thư và nhận
hồi âm từ London là nguyên nhân buộc ông ta phải can thiệp. Giờ còn nhiều điều
phải nghĩ nhưng quá mệt mỏi bởi lo lắng và trong một ngày nóng nực, mặt tôi
nhắm lại và tôi chìm vào giấc ngủ.
Tôi
thức dậy và thấy Laura đang đặt tay trên lưng tôi.
“Chị
Marian, cái bóng người bên bờ hồ ấy, em đã nói chuyện với cô ta. Đó là Anne
Catherick. Nhìn này, cô ta kiếm thấy chiếc vòng xuyến của em”.
Vẫn
còn ngái ngủ, tôi nhìn cô một cách ngơ ngẩn. “Anne Catherick à?”.
“Vâng,
em đang kiếm chiếc vòng trên nhà thuyền”, Laura nói tiếp “Thì một người đàn bà
mặc đồ trắng tiến tới và nói khẽ “Cô Fairlie. Tôi có chiếc vòng xuyến của cô
đây. Mẹ cô chẳng muốn cô đánh mất nó đâu”. Em giật nảy người nhưng giọng nói
của cô rất tử tế nên em không thấy sợ. Em hỏi cô ấy biết mẹ em như thế nào. Cô
nói cô tên là Anne Catherick và hỏi em có nhớ cô bé hồi xưa đi với mẹ và mẹ em
tới trường ở Limmeridge không? Đột nhiên em thấy chúng em giống nhau như đúc
nhưng mặt cô trông tái, gầy và mệt mỏi. Nếu ốm đau một thời gian dài, mặt em
chắc cũng như thế. Sao chị kêu tôi là cô Fairlie? Em hỏi, và cô ấy trả lời “Bởi
vì tôi yêu cái tên Fairlie và ghét tên của Glyde”.
“Thế cô ta có nói gì về chồng em
không?”.
“Cô
ta bảo sau khi cô viết lá thư, cô không đủ can đảm ở lại Limmerridge nữa và cố
gắng tránh xa đám cưới của em. Cô ta sợ ông ấy thấy cô ta và tống cô ta vào Nhà
thương điên lần nữa. Nhưng giờ thì cô không còn sợ nữa vì giờ cô bệnh rất nặng
và nghĩ rằng cô đang chết dần. Rồi thì, chị Marian, cô ấy nói cố ấy và mẹ cô
biết một bí mật mà chồng em rất sợ”.
“Vậy ư? Tiếp đi em”, tôi nôn nóng “Bí mật gì
thế?”.
“Cô
ta đã định kể thì cô ấy nghĩ có nghe thấy tiếng động ở bên ngoài. "Không
chỉ có mình chúng ta ở đây đâu”, cô ấy nói “Có ai đó đang rình chúng ta. Ngày
mai tới đây nhé, cũng vào lúc này, tôi sẽ kể cho cô nghe”. Sau đó cô ta đẩy em
sang một bên và biến mất”.
“Ôi,
Laura, Laura, lại mất đi một cơ hội, nhưng em nhớ cuộc hẹn ngày mai nhé. Rất
quan trọng đấy. Chị sẽ theo em ở một khoảng cách an toàn. Lần này thì cô ta
không thoát được đâu”.
Chúng
tôi im lặng một lúc. Sau đó Laura lo lắng nói “Sao ông Percival không gọi em lên
thư viện để ký giấy tờ nữa?".
“Ồ,
phải rồi! chị quên kể cho em”, tôi nói “Nhờ bá tước Fosco đó. Việc ký giấy tờ
đã được hoãn lại”.
“Nhưng
tại sao?” Laura ngạc nhiên nói “Nếu ông Percival cần tiền như thế thì sao lại
trì hoãn?”.
“Chị
nghe luật sư của ông Percival có đề cập đến một kế hoạch thứ hai – Gửi giấy hứa
thanh toán trong vòng ba tháng”.
“Ôi
chị Marian, thật là nhẹ nhõm cả người”.
“Ừ, đúng vậy, mong đó là sự thật”.
Tối
hôm đó, Percival tỏ ra lịch sự, thậm chí vui vẻ nữa, đặc biệt đối với Laura.
Hẳn điều này là do ảnh hưởng của ông bá tước và nó làm tôi lo lắng. Điều gì ẩn
giấu đằng sau? Tôi chắc chắn chuyến đi đột ngột của ông Percival ngày hôm qua tới Welmingham là để hỏi bà Catherick. Ông ta
đã tìm ra điều gì vậy? Kế hoạch của ông ta là gì? Khi buổi tối trôi qua, trong
tôi dấy lên nhiều nỗi bất an và tôi đi ngủ với nỗi âu lo về những gì ngày mai
sẽ đem đến.
***
Tôi
lo lắng quả không sai. Hôm sau tôi và Laura sắp xếp sau bữa trưa Laura sẽ đi
một mình đến nhà thuyền, tôi sẽ đi sau một chút rất thận trọng để Anne
Catherick không thấy phòng trường hợp Anne sợ có sự xuất hiện của người lạ.
Ông
Percival đã ra đi từ sáng sớm và không xuất hiện ngay cả đến bữa trưa, vì vậy
dễ dàng thiết lập kế hoạch hành động. Mặc dù vậy, khi tôi lặng lẽ đến nhà
thuyền tôi không nghe thấy tiếng nói nào, không một âm thanh của sự chuyển
động, không có gì cả. Chẳng bao lâu tôi vào bên trong nhà thuyền và cất tiếng
tiếng gọi tên Laura nhẹ nhàng. Nhưng không ai trả lời và không ai xuất hiện. Ở
bên ngoài, tôi thấy dấu trên mặt đất, dấu chân của hai người in trên cát – dấu
chân lớn giống như của một người đàn ông và dấu chân nhỏ tôi chắc là của Laura.
Còn có một lỗ nhỏ trên cát ngay bên thân nhà thuyền.
Buồn
phiền thất vọng, tôi vội vã trở về nhà. Người đầu tiên tôi gặp là bà Michelson, bà quản gia.
Tôi
hỏi “Bà có biết Phu nhân Glyde trở vào nhà chưa?”.
“Vâng,
cô ấy ở trong nhà thưa cô Halcombe. Và tôi e có điều không may gì đã xảy ra.
Phu nhân Glyde nước mắt vòng quanh chạy lên lầu và ngài Percival bảo tôi đuổi
người tớ Fanny của cô ấy”.
Tim
tôi như rớt xuống. Fanny là người hầu của Laura từ Limmeridge và là người duy
nhất trong nhà cả hai chúng tôi tin tưởng.
Tôi
chạy lên lầu tới phòng Laura. Cửa phòng đóng và một gia nhân của ông Percival
đứng trước cửa.
“Xê
ra”, tôi nói “Mi không thấy ta muốn vào trong sao?”.
“Nhưng
cô không được vào”, cô ta trả lời “Tôi được lệnh như vậy”.
Tức
điên lên tôi quay xuống lầu kiếm ông Percival. Ông ta đang ở trong thư viện
cùng bá tước và bà bá tước.
“Có
phải tôi phải hiểu rằng phòng của vợ ông là nhà tù không?”, tôi hỏi, nhìn thẳng
vào vào mặt ông ta.
“Đúng,
chính là những gì cô cần phải hiểu”, ông ta trả lời.
“Này cẩn thận với kiểu đối xử với vợ của ông”
tôi điên tiết hét lên “Luật lệ bảo vệ phụ nữ đấy, tôi sẽ dùng luật cho xem”.
Thay
vì trả lời tôi, ông ta quay sang ông bá tước. Ông bá tước nhìn tôi với đôi mắt
bình tĩnh, xám lạnh. Nhưng người nói lại là bà bá tước.
“Cám
ơn vì cái bệnh viện của ông, ông Percival”. Bà ta đột nhiên nói “Nhưng tôi
không thể ở trong ngôi nhà mà những quý bà bị đối xử như vợ ông và cô Halcombe
hôm nay”.
Ông
Percival nhìn vào bà ta trong sự im lặng ngỡ ngàng, như tôi biết bà ta nói mà
chẳng cần ông bá tước cho phép.
“Tôi
đồng ý với vợ tôi”, ông bá tước trầm lặng nói.
Ông
Percival rít lên nguyền rủa. “Được rồi, Anh đi đường anh”. Buông ra những lời như
thế, ông ta bước ra khỏi phòng.
“Đấy
chúng ta đã chứng kiến gã đàn ông tồi tệ nhất nước Anh thế đấy”, ông bá tước
nói “cám ơn lòng quả cảm của cô, cô Halcombe. Tình huống trớ trêu sẽ kết thúc
ngay bây giờ”.
Tôi
cố gắng nói năng bình thường nhưng không thể. Ông bá tước đã rời khỏi thư viện
rôi thì quay lại sau vài phút để nói rằng phu nhân Glyde được tự do trong ngôi
nhà của mình như trước. Ngay lập thức, tôi chạy ào lên lầu tới phòng Laura. Em
đang ngồi cô đơn bên trong và tôi vội vã đến mức quên đóng lại cánh cửa phòng
đằng sau tôi.
Cô
kêu lên đầy vui sướng “Chị Marian, làm sao chị vào được vậy?”.
“Tất
nhiên là nhờ sự can thiệp của ông bá tước”, tôi đáp.
“Thật
là một con người kinh khủng”, em nói “Ông ấy là một gã gián điệp khốn kiếp”.
Ngay
lúc ấy chúng tôi nghe tiếng gõ cửa. Chính là bà bá tước, bà mang cho tôi chiếc
khăn tay mà tôi đánh rơi. Mặt bà trắng nhợt và nhìn vào mắt bà ta tôi biết ngay
bà đã đứng ngay cửa và nghe hết.
“Ôi,
Laura”, tôi nói khi bà ta đã đi ra “Em không nên nói ông bá tước là gián điệp,
cả hai chúng ta sẽ hối hận đấy”.
“Nhưng
ông ta chính là gián điệp đấy chị Marian! Có kẻ đã thấy em bên hồ nước vào hôm
qua, và đó là chính ông ta đó. Ông ta đã kể lại cho Percival để ông này rình mò
em và Anne Catherick suốt buổi sáng. Nhưng cô ấy đã không đến – Em phát hiện cô
ta để lại một lá thư ngắn trong cái hốc nơi cô ấy nấp. Cô ấy nói rằng có một
người đàn ông già, to béo đã theo sau cô ta vào hôm qua.
Ông
ta đã không bắt kịp cô ấy nhưng cô ta sợ hãi nên chiều nay không dám đến. Cô ấy
đã dấu lá thư từ sáng sớm và nói sẽ gặp lại em ngay để kể em nghe bí mật của ông
Percival”.
“Rồi điều gì đã xảy ra với lá thư?”, tôi nói
“Em có còn giữ nó không?”.
“Không,
trong khi em đang đọc thì ông Percival xuất hiện. Ông ta giật lấy nó khỏi em và
yêu cầu phải cho ông ấy biết Anne Catherick đã nói những gì. Ông ấy siết cổ tay
em rất chặt – chị xem này ông tay làm tay em bầm tím. Em phải làm gì đây chị
Marian? Em chẳng có sự giúp đỡ nào hết và em đã kể hết cho ông ta.
Tôi
nhìn vết thâm tím trên tay Laura và cảm thấy cực kỳ căm giận Percival đến mức
không thốt nên lời.
“Nhưng
ông ta cũng chẳng tin em nói”, Laura tiếp “Ông ta nói ông biết là cô ấy còn nói
nhiều hơn nữa và ông ta sẽ khóa cửa nhốt em cho đến khi nào em thú nhận hết sự
thật. Sau đó ông ta lôi em vào nhà, ra lệnh đuổi Fanny và khóa cửa phòng em
lại. Ôi, chị Marian, Ông ta hệt như một tên điên, chúng ta phải làm gì đây?”.
“Hắn ta điên rồi – điên cùng với hoảng sợ. Hắn
nghĩ em đã biết bí mật của hắn”, tôi nói “Chị phải hành động ngay để bảo vệ em
- ai mà biết được chị còn được ở đây bao lâu nữa?”. Tôi đã suy nghĩ thật khó
khăn trong ít phút. Tôi sẽ viết hai lá thư đưa cho Fanny giữ. Tôi không tin vào
hộp thư ở đây chút nào nữa. Một lá gửi cho ông Kyrle nói cho ông ta biết về vết
thâm tín của em và hành vi khủng bố của ông ta.
Tôi
rời khỏi em và đi về phòng viết thư. Fanny đã đi ngay và ở qua đêm tại một
khách sạn nhỏ trong làng trước khi đi một chuyến dài tới Cumberland vào ngày
hôm sau. Tôi quyết định giành khoảng thời gian trước bữa ăn tối để đi vào làng
và quay về, vì thế tôi lặng lẽ lẻn khỏi nhà.
Chốc
chốc tôi lại nhìn về phía sau. Có ai theo dõi tôi không? Hay trí tưởng tượng
đánh lừa tôi? Lúc này tôi nghi ngờ mọi việc – kể cả một tiếng động nhỏ, bóng
tối trên con đường, từng cơn gió thoảng. Trước đó, lúc viết thư tôi nghĩ tôi
nghe thấy tiếng váy lụa sột xọat ngoài cửa phòng Tôi tự hỏi liệu có ai trong
phòng mình không nhỉ, tôi đã nhìn qua đồ vật trên bàn. Tôi tiếp tục vội vã, cố
gắng gỡ bỏ nhưng ý nghĩ ấy ra khỏi đầu óc.
Khi
tôi đến khách sạn nhỏ, tôi thấy Fanny trong phòng. Cô ta rất buồn vì phải xa
Laura và mắt đầu khóc lóc nhưng ngừng khóc ngay khi tôi nói cho cô biết phu
nhân Glyde và tôi cần cô giúp.
“Đây
là hai lá thư”, tôi nói “Gửi một lá cho ông Kyrle ở London vào ngày mai và lá
còn lại cô đích phải thân đưa cho ông Fairlie khi cô về đến Lummeridge. Giữ cho
kỹ nhé!”.
Fanny
bỏ lá thư vào trong chiếc váy. “Chúng sẽ nằm ở đây thưa cô”, cô ta nói “cho đến
khi em hoàn tất mọi việc cô giao cho em”.
7
Cuộc trò chuyện trong đêm
Tôi
quay trở về nhà chỉ sau hai mươi phút để chuẩn bị dùng bữa tối – và tôi lẻn vào
phòng Laura cho cô biết những lá thư đã được an toàn trong tay Fanny.
Laura
trông tái mét. “Em không xuống ăn tối đâu”, cô nói “Ông Percival đã tới phòng
quát nạt bắt em phải nói Anne Catherick ở đâu”.
Trong
bữa ăn, mặt ông bá tước trông nóng bừng và ửng đỏ, trang phục có chút xộc xệch.
Tôi tự hỏi ông ta cũng ra ngoài a? ông ta có vẻ bị xáo động bởi vài sự quấy
nhiễu bí mật hay lo âu gì đó và hầu như im lặng như ông Percval. Cuối bữa ăn,
khi bà Fosco và tôi rời khỏi bàn, ông bá tước cũng đứng dậy.
“Ông
đi đâu vậy ông Fosco”, ông percival nói “Ngồi xuống đây và lấy vài ly rượu ra
đây. Tôi muốn nói riêng với ông một chút”.
“Không
phải lúc này, ông Percival, muộn rồi". Ông bá tước trả lời.
Từ
sáng sớm, tôi đã nghe ông Percival yêu cầu như thế và đây là lần thứ hai ông bá
tước hoãn lại cuộc nói chuyện. Sao thế? Tôi tự hỏi. Điều gì ông Percival muốn
thảo luận ngay với ông bá tước?
Chúng
tôi đi vào phòng khách và bà Fosco như thường lệ di chuyển chậm chạp và thận
trọng, uống trà rất nhanh và lùi về lặng lẽ phòng. Tôi cũng rời khỏi phòng
nhưng ông bá tước ngăn tôi lại, trước tiên là môi tôi dùng thêm trà rồi sau đó
hỏi quan điểm của tôi về âm nhạc và sau đó ông chơi piano một loạt các bản nhạc
Ý ồn ào. Cuối cùng thì tôi cũng thoát khỏi ông ta và đi lên phòng Laura. Không
biết cô có nghe điều gì về bà Fosco không, tôi hỏi, Có nói là không. Chúng tôi
nói chuyện cùng nhau đến mười giờ, sau đó tôi xuống lầu và chúc cô ngủ ngon.
Ông Percival, ông bá tước và bà vợ đang cùng ngồi trong phòng khách, tôi chú ý
thấy mặt bà bá tước nóng rực và đỏ bừng. Bà ta đã ở đâu và đã làm gì? Khi tôi
nhìn bà, bà hơi mỉm cười như thể đang đùa.
Tôi
chào mọi người và khi rời khỏi phòng tôi nghe ông Percival nói một cách thiếu
kiên nhẫn với ông bá tước “Ra ngoài làm vài điếu thuốc đi ông Fosco”.
“Thật thú vị đấy ông Percival,
khi mà mọi quý bà đã đi ngủ” ông bá tước trả lời.
Đứng trong phòng, tôi không
thể thôi suy nghĩ về cuộc thảo luận riêng tư giữa ông Percival và ông bá tước,
đã bị trì hoãn suốt ngày và bây giờ có vẻ như đã có chỗ yên tĩnh và một đêm
vắng lặng để bắt đầu. Một lúc sau tôi đi từ phòng ngủ ra phòng khách của tôi và
đóng cánh cửa giữa hai căn phòng. Trời tối đen khi không có ngọn nến nào được
thắp lên và đôi lần tôi nhìn ra ngoài cửa sổ mở cửa, nhìn xuống khu vườn tối
đen. Có mùi gì ẩm ướt như mưa vẫn còn, không khí ngột ngạt, nặng nề.
Đột nhiên tôi thấy hai đốm sáng đỏ tiến tới trong màn tối và dừng lại
dưới cửa sổ phòng ngủ của tôi, bên trong phòng nến đang thắp sáng. Một đốm đỏ
nhỏ, đốm kia lớn hơn. Ông bá tước hút xì gà còn ông Percival hút thuốc lá, tôi
nghĩ thế. Họ không thể thấy tôi trong phòng khách tối đen nên tôi đợi nghe họ
nói chuyện.
“Sao anh không vào và ngồi xuống”, ông Percival nói.
“Đợi đến khi đèn tắt đã”. Ông bá tước trả lời. “Khi nào biết bà ấy đi
ngủ và kiểm tra phòng kế bên thư viện xong đã rồi hẵng nói”.
Thật là ly kỳ! Tôi quyết định phải nghe cuộc trò chuyện bất chấp những
nỗ lực của ông bá tước cố giữ kín chuyện riêng tư. Ý tưởng này làm tôi khiếp sợ
nhưng vì hạnh phúc của Laura – có lẽ cả cuộc đời của cô nữa – có thể phụ thuộc
vào những gì tôi nghe được. Tôi có thể làm thế nào đây? Tôi chợt nhận ra tôi có
thể ra ngoài mái hiên chạy dọc suốt phòng ngủ nằm dưới cửa sổ khoảng ba foot (khoảng 1 mét). Mái hiên hẹp nhưng bên dưới có phòng
chạy dọc theo để tôi có thể di chuyển đến nơi cửa sổ phòng thư viện. Ông bá
tước và ông Percival thường ngồi gần cửa sổ mở, hút thuốc, và nếu họ vẫn làm
như thế thì tôi có thể nghe được họ nói từ phía trên.
Tôi quay lại phòng ngủ, khoác
tấm áo choàng có mũ trùm và tắt ngọn nến. Sau đó một lúc, tôi quay lại phòng
khách và leo ra ngoài cửa sổ trên mái hiên. Tim tôi bắt đầu đập rất nhanh, tôi
phải vượt qua năm cánh cửa sổ - bốn cánh tối đen nhưng cánh thứ năm của phòng
bà bá tước nằm ngay trên phòng thư viện nơi tôi dự định ngồi đó. Đèn trong
phòng vẫn còn sáng tôi bò dọc mái rồi hạ thấp tay, đầu gối để băng qua cửa sổ
phòng bà ta. Khi tôi băng qua, tôi nhìn thấy bóng bà in trên tấm màn cửa sổ
mỏng.
Nín thở. Bà ta có nghe thấy
tôi không? Bà
ta sẽ nhìn ra ngoài không? Không, bóng bà di chuyển đi nơi khác, bà ta đã đi
khỏi. Lập tức tôi di chuyển ra vị trí ngay sát rìa mái hiên và bắt đầu lắng
nghe. A! tôi có thể nghe tiếng ông bá tước.
“Đèn phòng cô Halcombe tắt rồi, mấy căn phòng
kế bên cửa vòm trống rỗng, chỉ có phòng của bà nhà tôi còn sáng đèn – giờ ta có
thể nói chuyện được rồi. Công việc chúng
ta đang khủng hoảng nghiêm trọng, Percival à, và chúng ta phải quyết định về
tương lai ngay trong đêm nay".
“Còn
tồi tệ hơn ông nghĩ đấy”, ông Percival gầm gừ.
“Nghe
này Percival, Tình trạng hiện nay của ông như thế này. Cả hai chúng ta đến ngôi
nhà này vì cần tiền và chỉ có một con đường là phải có sự giúp đỡ của vợ ông.
Giờ tôi phải nói gì với ông đây? Tôi đã nói ông đừng bao giờ mất bình tĩnh đối
với vợ và đặc biệt là đối với cô chị, cô Halcombe. Ông có nhớ điều đó không?
Chẳng lần nào cả. Tính khí điên khùng của ông đã làm mất chữ ký của vợ ông, mất
đi món tiền đã sẵn sàng, đã làm cho cô Halcombe phải lần đầu tiên viết thư cho
luật sư”.
“Lần
đầu tiên! Vậy cô ta đã viết nữa à?”.
“Phải,
hôm nay cô ta đã viết tiếp lần nữa”.
Cái
gì! Làm sao ông ta lại biết điều này? Phải chẳng ông ta đã theo tôi đến khách
sạn. Nhưng ngay cả nếu ông ta làm như thế thì ông ấy cũng không thể nào thấy
những lá thư – chúng đã giao thẳng từ tay tôi vào váy của Fanny mà, làm sao ông
ta lại biết?
“Ông
thật là may mắn”, ông bá tước tiếp “Là có tôi trong nhà này để khắc phục những
việc làm sai lầm của ông. Thật may mắn tôi đã nói không khi ông điên cuồng giam
vợ ông và ngăn cách cô với cô chị Halcombe. Ông không thể thấy cô chị rất can
đảm và hiểu biết như đàn ông sao?. Tôi rất thán phục người đàn bà đó! Nhưng cô
ta đứng như tảng đá ngăn cản chúng ta và cô vợ xinh đẹp của ông. Bây giờ là
chuyện tiền nong. Chúng ta đang có một khoản nợ - được ký xác nhận hứa sẽ trả
trong vòng ba tháng. Đến lúc đến hạn, có cách nào để trả nợ trừ việc nhờ vào sự
giúp đỡ của vợ ông không?".
"Không".
“Hiện tại có món tiền gì ông nhận được từ vợ
không?”.
"Chỉ
có khoản lãi của khoản tiền hai mươi ngàn bảng của cô ta thôi”.
“Không
còn khoản nào khác ư?”.
“Chắc
chắn chẳng có gì. Trừ trường hợp cô ta chết”.
“A!
trong trường hợp cô ta chết”.
Ngưng
một chút. Trời bắt đầu mưa và rồi tôi cảm thấy lạnh và ướt át.
Ông
Percival lập lại “Nếu cô không có con, tôi sẽ được nhận hai mươi ngàn bảng của
cô”.
“Percival,
ông có quan tâm đến vợ ông không?”.
"Fosco!
Đó là một câu hỏi rất thẳng thắn”.
“Vậy
thì hãy nói vợ ông mất trước khi mùa hẻ kết thúc”.
“Quên
đi Fosco!”
“Ông sẽ có hai mươi ngàn bảng”.
“Ông
nói cũng như tôi nói thôi, Fosco. Ông cũng kiếm chác được mười ngàn bảng từ cái
chết của vợ tôi”.
“Percival
chính đây là tình thế. Nếu vợ ông sống, phải có chữ ký của cô ta ông mới trả
được nợ. Nếu cô ta mất ông sẽ trả nợ bằng cái chết của cô”.
Ánh
sáng từ phòng bà bá tước đã tắt, và mái hiên chìm trong bóng tối. Mưa vẫn tiếp
tục rơi. Tôi căng hết thần kinh trong người lắng nghe, cố nhớ từng chữ.
“Percival,
ông phải để việc này cho tôi. Tôi có hơn hai tháng để tìm ra giải pháp vì thế
nên chúng ta sẽ thôi không nói về chuyện này nữa. Để tôi giúp ông việc khó khăn
khác – Việc khó này có vẻ như mang cái tên là Anne Catherick”.
“Kìa,
Fosco, chúng ta là bạn bè mà nhưng chúng ta cũng có bí mật riêng chứ. Chẳng lên
quan gì đế ông. Xin đừng hỏi gì về điều đó với tôi”.
“Kìa
ông bạn, Tôi có thể tôn trọng điều bí mật. Vì vậy tôi sẽ không đòi hỏi ông phải
kể cho tôi nghe. Nhưng tôi có thể giúp ông mọi việc như nhau không?”.
“Nếu tôi không tìm ra Anne Catherick, tôi sẽ mất sạch.
Cả hai người, cô ta và mẹ cô ta đều biết bí mật này. Điều đó có thể làm tiêu
tan tôi, ông Fosco ạ. Cô ta đã chuyện với vợ tôi và tôi chắc chắn cô ta đã kể
hết cho vợ tôi. Nhưng cũng như vợ ông, chắc chắn cũng rất quan tâm đến việc giữ
bí mật này. Nếu cô ta yêu tôi thì cô ta sẽ giữ bí mật. Nhưng cô ta đã yêu một
kẻ cô đã từng gặp gỡ trước khi chúng tôi kết hôn, một thầy dạy vẽ tên là
Hartright. Ai đã giúp Anne Catherick trốn khỏi Nhà thương điên? là Hartright
đó. Ai đã thấy cô ả ở Cumberland, cũng là Hartright. Hắn ta biết điều bí mật,
vợ tôi cũng thế. Nếu chúng đứng về cùng phía, chúng sẽ dũng những điều này để
chống lại tôi”.
“Vâng, vâng, tôi hiểu. Thế Hartright giờ ở đâu?”.
“ Đã ra khỏi nước này, đang đi đến Nam Mỹ”.
“Đừng lo lắng gì, tôi sẽ sắp xếp khi
hắn ta quay về. Phụ thuộc vào điều này. Nhưng trước tiên chúng ta phải
tìm cho ra Anne Catherick. Mẹ cô nàng thế nào? Có đáng tin cậy không?”.
“Điều bà
ta quan tâm là không nói cho ai biết điều bí mật này”.
“Tốt, nào, làm thế nào để nhận
ra Anne Catherick?”.
“Dễ thôi, Cô ta bệnh hoạn,
xanh xao, rất giống vợ tôi”.
Có tiếng ghế đẩy lùi về phía
sau. Ông bá tước đứng nhón chân khi nói. Ông ta có vẻ rất ngạc nhiên.
“Cái gì!!! Cô ta và vợ ông có
quan hệ họ hàng à?”.
“Không, không gì cả”.
“Sao lại giống nhau? Được, tôi
sẽ hiểu khi gặp cô nàng”
“Ông cười cái quái quỷ gì thế? Ông Fosco”.
“Chỉ là một ý nghĩ thôi, bạn thân mến, chỉ là một ý nghĩ thôi, Nhưng đêm
nay thế là đủ rôi. Ông có thể thư giãn đầu óc rồi đấy ông Percival”.
Không còn lời nào cất lên
nữa. Tôi nghe tiếng đóng cửa phòng thư viện. Tôi bị ướt hết, da cứng đờ và đau
buốt vì lạnh. Thoạt đầu, tôi không thể di chuyển nổi, nhưng rồi từ từ, một cách
đau đớn, tôi bò quay lại cửa sổ của tôi và leo vào. Khi tôi ngã vật ra sàn nhà,
tôi nghe đồng hồ điểm một giờ mười lăm. Thời gian trôi qua. Tôi cố gắng chế ngự
để thức và thay quần áo khô. Tôi sốt bừng bừng và run lẩy bẩy vì lạnh. Tôi biết
tôi phải ghi lại ngay những gì tôi đã nghe được, vì thế tôi kiếm giấy, bút và
viết không ngừng. Cơn sốt ngày một tăng, nóng bừng, nóng bừng, tôi mở cửa số
cho mát…Tám giờ. Ánh mặt trời tươi sáng đập vào mắt tôi, đầu nhức, xương cốt
nhức, da nóng bỏng nhưng vẫn run lập cập không ngừng. Khi đã viết xong, tôi nằm
xuống ngủ thiếp đi và trong cơn sốt, tôi thấy ông bá tước vào phòng tôi và đọc
những tờ giấy mà tôi đã viết. Ông ta mỉm cười. Không có sự giúp đỡ nào, tôi
không thể di chuyển, nói, thở… và tôi chìm đắm vào đêm đen, dài của cơn bệnh.
8
Cơn sốt
Mê man trong cơn bệnh, tôi
chẳng còn biết gì hết, mọi biến cố xảy ra quanh tôi mãi sau này tôi mới biết,
tất nhiên nhờ mọi người kể lại.
Rốt cuộc khi tôi trở về
Lummeridge, Fanny kể cho tôi về những lá thư và đêm cô ta rời khỏi Blackwater.
“Cô đi khỏi lúc khoảng bảy giờ thì lúc chín giờ có người khác tới thăm – là bà
bá tước! vâng, tôi rất ngạc nhiên. Tuy nhiên bà ta rất tử tế. Bà ta biết tôi
rất buồn đau vì phải ra đi và khăng khăng đòi uống cùng tôi vài tách trà. Vì
thế tôi đã dùng trà và năm phút sau tôi thấy người uể oải – lần đầu tiên trong
đời! Khoảng một tiếng rưỡi sau, tôi thức dậy. Một bà của khách sạn đã chăm sóc
tôi sau khi bà bá tước đi về. Tôi kiểm tra mấy lá thư trong váy, thưa cô, chúng
vẫn nằm ở đấy, hoàn toàn an toàn.
“Và như cô đã chỉ bảo, tới London, tôi đã gửi
lá thư cho ông Kyrle, và ngay sau đó, tôi tới Lummeridge, tôi giao lá thư còn
lại cho đích thân ông Fairlie. Tôi kể cho ông nghe tôi bị ông Percival đuổi
việc và tất cả mọi việc và cả chuyện xảy ra ở khách sạn, nhưng ông ta chả tỏ vẻ
quan tâm gì cả, thưa cô.
Chút thông tin như thế chẳng
làm tôi ngạc nhiên tý nào. Ông chú của Laura có bao giờ quan tâm đến ai khác
ngoại trừ chính bản thân ông ta. Khi tôi đến nói chuyện với ông ta, ông ta toàn
bào chữa:
“Thần kinh của tôi, Marian
thân mến, hãy nhớ cho thần kinh của tôi, vâng, tất nhiên tôi sẽ nói cho cô về
những lá thư nhưng làm ơn đừng kích động, đừng đi vòng quanh và gõ cửa như thế!
Cố mà bình tĩnh”.
"Tất nhiên là phải như
thế, Marian thân mến, Tôi đã làm gì nào? Cô nói là cần phải thoát khỏi chồng nó
và về lại Lummeridge a? Nhưng rồi ông Percival lại theo về thì sao? Hãy nghĩ về
những ồn ào, giận dữ, đập cửa! Đó là lý do tại sao tôi viết thư cho cô xin cô
hãy tới đây gặp tôi trước đã để nói về vấn đề này với tôi".
Tôi có thấy lá thư nào của ông
đâu, tất nhiên thư đến lúc tôi đang mê man trong cơn sốt.
“Và ông Kyrle có viết thư cho ông phải không?”,
tôi nói.
“Ừ, ông ấy bảo rằng ông nhận
được thư viết địa chỉ ghi trên phong bì bằng nét chữ viết tay của cô nhưng bên
trong chỉ có tờ giấy trắng, chẳng có lấy một chữ. Ông ấy đã viết thư cho cô về
việc này nhưng không thấy hồi âm. Tại sao ông ấy mong tôi giải thích việc lạ
lùng này, tôi chả biết gì cả. Tôi đã nói với ông ấy như thế”.
Rất hữu ích! tôi cay đắng
nghĩ. Nhưng chẳng có điểm gì trong lời nói cả. “Và ông có ngạc nhiên không khi
không nghe gì về tôi nữa?”.
“Quả thực thế cho đến khi ông chồng ngoại quốc
của bà chị tôi, là ông bá tước kỳ dị Fosco, tới thăm tôi. Thật là một người
khổng lồ”, ông Fairlie nói, ông nhắm mắt hồi tưởng “Nhưng rất đáng ngạc nhiên
là ông đi đứng rất nhẹ. Bằng mọi cách, ông ta giải thích cô đang bị bệnh ra
sao, Marian thân mến, và vì sao cô đã không hồi âm thư của tôi. Tôi đã rất sốc
và lo buồn khi nghe về bệnh tình của cô. Nhưng ông bá tước nói rất nhiều – tôi
nghĩ chắc chẳng bao giờ ông ngưng nói !”.
“Và ông ta thuyết phục ông
viết thư cho Laura”, tôi nói, cố gắng giữ giọng nói bình thường và bình tĩnh.
“Vâng, ông ta thúc dục tôi – thực thế, hầu như
là yêu cầu tôi – mời Laura tới đây ngay. Ông ta nói cô ấy rất căng thẳng và âu
sầu ở cùng cô trong phòng bệnh, và tình trạng của ông Percival ngày càng trở
nên tệ hơn. Sẽ không có rắc rối gì trong chuyến đi vì ông ta và vợ đã thuê một
căn nhà ở London. Vì thế Laura có thể du hành tới London, nghỉ đêm tại đó và
tiếp tục đi tới Cumberland vào ngày kế”.
“Vì thế ông đã viết thư cho
Laura và đưa cho ông ta”, tôi nói.
“Đâu có gì gây tổn hại trong thư đâu? Trong
mọi tình huống, tôi chẳng mảy may nghĩ là Laura bỏ cô để đi một mình khi mà cô
đang bệnh. Và làm sao tôi biết những biến cố gây sốc về việc chuyển chỗ như
thế? Không ai có thể nói là tôi có lỗi…”
***
Tôi biết chính xác ai là người
có lỗi nhưng cần phải để yên một thời gian để sắp xếp các mảnh thông tin rời
rạc khớp lại với nhau. Khi tôi bắt đầu nhận ra lại môi trường xung quanh, trong
lúc đang phục hồi lại, dĩ nhiên là tôi không biết gì cả về những lá thư. Tôi
chỉ biết tôi không nằm trong phòng ngủ quen thuộc của tôi và có một người phụ
nữ ngoại quốc chăm sóc tôi. Tôi chẳng biết bà là ai và bà ta không trả lời bất kỳ câu hỏi của tôi. Vì thế
tôi rất mừng khi gặp khuôn mặt quen thuộc của bà Michelson xuất hiện sau đó ít
ngày. “Ôi! Bà Michelson”, tôi kêu lên “Rất vui được gặp bà. Xin nói cho tôi
biết việc gì xảy ra thế này?”.
“Cô bị sốt phát ban, cô
Halcombe ạ. Cô rất yếu nhưng giờ trông cô đang khỏe dần trở lại. Tôi rất vui
được nói như thế”.
“Phát ban a! thảo nào tôi cảm thấy yếu như
thế. Còn em tôi, bà Glyde – Tôi mong cô
không bị lây bệnh chứ?”.
“Không, cô ấy ổn”.
Bà Michelson không nhìn vào
mặt tôi và tôi bắt đầu cảm thấy lo lắng. Phải chăng bà ta sợ phải nói với tôi
điều gì đó.
‘Em tôi bệnh phải không?”, xin
bà đấy bà Michelson, tôi phải biết”.
“Không, cô không bệnh nhưng
mà…nhưng cô ấy không còn ở đây nữa, ngày hôm qua cô ấy đã đi London và hôm nay
sẽ đi tới Limmeridge”.
Tôi nhình chòng chọc vào bà.
Laura đi rồi ư? Tôi không thể nào tin được. Việc này nghĩa là gì vậy? Có điều
gi kinh khủng xảy ra thế? Tôi nhớ lại cuộc trò chuyện tôi đã nghe trên mái hiên
trong đêm và tim tôi ngập tràn nỗi sợ hãi.
“Thế ông Percival…?". Tôi
không thể hỏi hết câu.
“Ông Percival rời khỏi nhà tối
qua để đi ra nước ngoài”, bà ta cho biết. “Ông bà bá tước đã đi London. Toàn bộ
gia nhân đã bị cho nghỉ trừ đầu bếp và người làm vườn. Chỉ có tôi và cô đang ở
nhà này thôi, cô Halcombe”.
“Ôi, cô Halcombe, tôi xin lỗi”, bà ta nói “Cố
đừng lo lắng gì. Giờ cô phải nghỉ ngơi và cố ngủ đi một chút”.
Sau đó, khi tôi cảm thấy khỏe
hơn, chúng tôi lại tiếp tục trò chuyện. “Kể cho tôi nghe mọi chuyện bà nhớ đi,
kể từ lúc tôi đổ bệnh” tôi nài nỉ bà Michelson. “Tôi phải biết những gì đã xảy
ra”.
“Được thôi, cô Halcombe, vào
buổi sáng đầu tiên gia nhân phát hiện cô sốt li bì trên giường, tay nắm chặt
cây viết. Ngay lập tức bác sỹ được mời tới ngay, ông Dawson nói cô bị ốm rất
nặng. Bà bá tước và tôi đã hành động như y tá – bà Glyde cũng muốn giúp nhưng
cô ấy quá suy sụp khi thấy cô bất tỉnh mê man đến nỗi khóc không ngừng”.
“Ông Percival và ông bá tước cũng quan tâm đến
cô nữa, dù rằng họ có vẻ lo nghĩ chuyện gì khác nữa. Thực tế ông bá tước đã bỏ
ra ba ngày đi xuống hồ, ở chỗ cái nhà thuyền cũ và tôi nhớ có lần ông ta đến
khi tôi đang băng ngang ngọn đồi. Ông Percival vội vã rời khỏi thư viện, hỏi:
“Đã thấy nó chưa”. Tôi không nghe câu trả lời và cũng không biết họ đang nói về
chuyện gì”.
Tôi biết rõ họ đang nói về ai
nhưng chắc chắn bà Michelson không biết gì hết, vì vậy tôi không nói gì.
“Cô sốt thật kinh khủng”, bà
Michelson nói tiếp “ Ông bá tước nói chúng ta cần có y tá giúp đỡ, vì thế bà
Fosco đáp tàu lửa tới London và đưa bà Rubella về.
“Có phải cái bà ngoại quốc chăm sóc tôi trước
khi bà xuất hiện không?”, tôi hỏi.
“Ông bá tước có kiến thức rất tốt về thuốc
men, cô thấy đấy, và ông luôn tranh cãi với ông Dawson về cách thức giảm sốt
cho cô. Ông Dawson kêu là bị quấy rầy và rất giận dữ. Nhưng thật ra, thưa cô,
ông bá tước đã phát hiện ra cô bị sốt phát ban trước ông Dawson. Ông ta, ông bá
tước ấy, đi London một tuần và khi trở về ông ta chỉ nhìn cô đúng một lần và
bảo “phát ban”. Ông Dawson về London, các bác sỹ khác tới cũng nói như thế.
Mười ngày sau đó chúng tôi rất lo cho tính mệnh của cô nhưng cuối cùng thì bác
sỹ bảo cô đã qua khỏi giai đoạn tồi tệ và chăm sóc tốt thì cô sẽ phục hồi. Bà
Glyde rất phấn khởi trước tin mới này đến nỗi đổ bệnh và phải nằm trên giường.
“Sức khỏe của em gái tôi luôn
mỏng manh lắm”, tôi nói.
“Vâng,
cô ấy không được khỏe. Dẫu thế nào đi nữa, cô Halcombe, thời điểm này những
việc phiền toái bắt đầu xảy ra. Trước hết, ông bá tước và bác sỹ Dawson lại cãi
nhau kịch liệt đến nỗi ông Dawson bỏ đi, bảo rằng ông ông từ chối không nhận
lời mời công việc nào nữa. Kế tiếp, ông Percival bảo tôi ông sẽ đóng cửa nhà.
Chẳng bao lâu nữa ông và bà Glyde có thể sẽ đi du lịch, ông ta nói thế, cô cũng
sẽ đi đâu đó để đổi không khí. Ông ấy nói tôi cho người làm nghỉ việc, trừ một
tớ gái nấu ăn và một người làm vườn. Tưởng tượng xem! Đúng như tôi đã nói với
cô! Cô Halcombe, nếu tôi không lo cho cô và bà Glyde tôi đã không cam chịu như
thế”.
“Việc cuối cùng quả thật rất kỳ lạ”, bà
Michelson lắc đầu nói. “Ông Percival nói là cô và bà Glyde sẽ được khỏe hơn khi
sống tại thành phố biển ở Torquay. Ông ấy bảo tôi tìm thuê ngôi nhà thích hợp
và nói tôi có thể phải trả bao nhiêu. Được, tôi biết là sẽ không đủ tiền trả và
mong là tôi không phải đi nhưng ông ấy là chủ nên tôi phải vâng lệnh thôi. Ngày
hôm qua, tôi trở về sau hai ngày ra đi và báo với ông Percival không kiếm được
ngôi nhà nào với giá thấp như thế. Ông Percival chẳng quan tâm gì lắm về những
tin tức của tôi. Ông chỉ nói là ông bà bá tước đã đã rời khỏi Blackwater Park
về nhà mới của họ ở London”.
Bà
Michelson nhìn tôi lo lắng. “Tôi nghĩ cô sẽ rất buồn về phần tiếp của câu chuyện”,
bà nói “bà Glyde tội nghiệp đã bị ông chồng lừa dối một cách khốn nạn”.
“Bà
không làm tôi ngạc nhiên đâu”, tôi thì thầm “Xin kể tiếp đi”.
“Sau lúc gặp ông Percival, tôi đi xuống dưới
lầu để gặp cô và bà Glyde. Em gái cô mặc dù còn yếu lắm nhưng cũng đã khá hơn
và muốn dậy và lên phòng thăm cô. Tôi giúp cô thay áo và khi đi ra ngõ, chúng
tôi gặp ông Percival ».
“Nếu
em đi gặp chị thì không thấy đâu”, ông Percival nói. “Hôm qua cô ấy đã đi khỏi cùng
với vợ chồng ông bá tước rồi. Cô ấy quyết định đi London cùng họ, trên đường
trở về Lummeridge. Bà Robella cũng đi luôn, để chăm sóc cô ấy trong chuyền đi.
Không tin thì em cứ nhìn vào phòng cô ất thì biết”.
“Tôi
bị sốc và rất ngạc nhiên vì việc này còn mặt bà Glyde thì trắng bệt như tờ
giấy. Cô ấy chạy vội xuống ngõ và nhìn vào phòng của cô. Hoàn toàn trống vắng".
Rồi
thì cô ấy gào to với ông Percival “Marian bệnh như thế làm sao mà đi được. Ngay
cả nếu chị ấy muốn đi, không bao giờ chị ấy ra đi mà không tạm biệt tôi trước
tiên, Và tại sao chị ấy lại về Lummerridge một mình như thế? Bỏ lại tôi ở lại
Blackwater”.
“Bởi
vì chú của em sẽ không tiếp nhận em đến khi nào thấy chị em trước”, ông
Percival nói “Em không nhớ ông ta đã viết trong thư gửi cô ấy như thế trước lúc
cô ấy bệnh không?”.
Trong
suốt cuộc nói chuyện, cô Halcombe, tôi thấy ông Percival có vẻ thất thường và
bực dọc, không giống ông ta như thường lệ chút nào. Và khi ông ta quay bước đi,
bà Glyde nước mắt rơi lã chã và nhìn tôi với ánh mắt hoảng hốt. “Có chuyện gì
xảy ra với chị tôi rồi. Tôi phải đi theo chị ấy – tôi phải chính mắt thấy chị
còn sống và mạnh khỏe. Bà Michelson, xin bà cùng tôi xuống gặp ông Percival,
xin vui lòng ở lại cùng tôi”. Cô ấy giữ chặt lấy tay tôi đến nỗi tôi phải cùng
đi với cổ.
Ông
Percival đang ngồi trong phòng khách, uống rượu. Ông ấy đã uống ít nhất bốn ly
lúc chúng tôi vào phòng, cô Halcombe, bà Glyde rất can đảm, tôi nghĩ thế. Cô ấy
nói “Nếu chị tôi đủ sức đi thì tôi cũng đi được. Cho tôi được đi theo chị cùng
lúc bằng chuyến xe điện chiều”.
Ông
Percival rất thô lỗ và hung hăng với cô ấy. “Em có thể đi vào ngày mai”, ông ấy
nói “Tôi sẽ viết thư cho ông Fosco. Ông ta sẽ đón em tại ga và em sẽ qua đêm ở
nhà ông ấy”.
“Bàn
tay của Glyde bắt đầu run lẩy bẩy trong tay tôi. “Tôi sẽ không ở nhà ông bá
tước”, cô ấy nói.
Ông Percival trở nên giận dữ.
“Tại sao không?”, ông ta thét lên “Ngủ tại nhà dì của cô có gì là không ổn? Chị
của cô đêm qua cũng tạm dừng ngủ nghỉ ở đó, cô cũng phải thế. Đó là những gì
chú của cô, ông Fairlie muốn như như thế. Đây, thư của ông ấy đây, tôi quên đưa
cho cô”.
Bà Glyde khốn khổ run rẩy tới
mức đưa lá thư cho tôi đọc cho cô ấy. Thư rất ngắn, tôi nhớ, chỉ vài chữ thế
này: Laura thân mến, khi nào cháu muốn
đến đây, hãy dừng ngủ nghỉ ở nhà dì cháu nhé. Rất buồn khi nghe Marian bị bệnh.
Chú thân yêu của cháu, Freserck Fairlie.
Bà Glyde không cố cãi nữa,
chúng tôi bước xuống lầu, Một kế hoạch hoàn toàn dễ nhận thấy, cô Halcombe, tôi
không thể hiểu vì sao bà Glyde rất kinh sợ ông bá tước Fosco. Cô đi về phòng,
thều thào “Tội nghiệp Marian – nằm trong tay của gã này. Tôi phải kiếm ra chi
ấy ngay cả nếu tôi phải theo chị ấy vào nhà Fosco”.
Ngày kế tiếp, tôi giúp bà
Glyde chuẩn bị ra ga. Nếu Marian đã đi Lummeridge, “Tôi sẽ không ở lại nhà ông
bá tước đâu”, cô ấy nói với tôi. “Tôi sẽ tới nhà bà Vesey, gia sư trước đây của
tôi”. Khi tàu chuyển bánh, tôi thấy khuôn mặt tái xanh và hoảng sợ của cô qua
cửa sổ. Tôi cảm thấy rất buồn cho cô.
“Khi quay trở lại đây, cô Halcombe, cô có
tưởng tưởng nổi tôi ngạc nhiên đến chửng nào khi tôi thấy bà Rubella đi trong
vườn! “Bà làm gì ở đây thế?”, tôi nói “Tôi tưởng bà đã đi London với vợ chồng
bá tước và cô Halcombe chứ”. Và rồi thì ra bà ta vẫn còn ở tại nhà. Khi tôi đi
khỏi tới Torquay, bọn họ đã chuyển cô tới căn phòng ít được dùng đến trong ngôi
nhà và dấu cô ở đó. Hẳn là cô đã ngủ mê mệt khi họ chuyển cô đi. Có lẽ họ đã
cho cô uống thuốc mê – Tôi không biết nữa. Sau đó ông Percival xuất hiện và
giải thích cho tôi. “Tất cả là để cho vợ tôi được tốt hơn”, ông ta nói “Cô ấy
cần thay đổi không khí và sẽ không chịu đi Lummeridge nếu biết bà còn ở nhà”.
Ông ta nói với vẻ bực bội và cọc cằn nên tôi chẳng dám bày tỏ ý nghĩ của mình.
“Cô thấy đấy, cô Halcombe, bà Glyde khốn khổ
đã bị lừa gạt như thế nào. Thật là độc ác, tàn bạo. ngay lập tức, tôi chấp nhận
thôi việc nhưng ông Percival bảo rằng bà Rubella sắp ra đi và không có ai chăm
sóc cô cả nếu tôi cũng đi. Vì vậy, đương nhiên tôi ở lại. Đêm qua ông Percival
đã ra đi như tôi đã nói với cô. Người làm vườn nói ông có vẻ như khùng khùng.
Ông ta lấy xe và lái như thể kẻ tội phạm trốn chạy vậy, lại còn nói là ngôi nhà
này như thể nhà tù và chẳng bao giờ ông trở về nữa. Cô Halcombe. tôi hy vọng và
cầu mong cho đừng bao giờ thấy gã đàn ông này nữa”.
Laura tội nghiệp – Sao mà em
lại khốn khổ thế! Tôi không thể làm gì được. Tôi không thể theo sau em khi mà
tôi quá yếu, đứng còn chẳng nổi. Tôi trông chờ một cách tuyệt vọng rằng em biết
được việc dối trá và viết thư cho tôi ngay nói rằng em bình an.
***
Thư tới sau đó vài ngày nhưng
không phải là thư của tôi và cũng không phải Laura gửi mà là thư của bà Fosco
gửi cho bà Michelson.
Bà Michelson vào phòng tôi với
lá thư trong tay. Ông Dawson, người đã đồng ý làm bác sỹ lại cho tôi, theo sau
bà ta. Tôi nhìn vào mặt họ và ngồi lên giường, lo lắng.
“Cái gì thế?”, tôi thở hổn
hển. “Các người mang tin tức tồi tệ gì cho tôi thế. Tôi có thể thấy rõ điều đótrên
mặt các người”.
Bà Michelson ngồi xuống bên
mép giường và nắm lấy tay tôi “Cô em bất hạnh, đáng thương của cô, bà Glyde …
cô ấy đã ra đi”.
Căn phòng bắt đầu tối sầm
quanh tôi như thể bóng đêm đang rơi xuống và
tiếng nói nghe như văng vẳng từ xa xôi.
Cơn bệnh khủng khiếp ập xuống
khi cô ấy tời nhà người dì ở London và mất ngay ngày hôm sau, rất đột ngột. Cô
được chôn cất ở Lummeridge ngay mộ mẹ cô.
***
Nhờ Bà Michelson đã chăm sóc
nuôi dưỡng rất tốt với cả ông Dawson nữa, tôi đã qua khỏi cơn bệnh lần thứ hai.
Suốt ba tuần, tôi không thể đi đâu được nhưng cuối cùng thì tôi cũng đã khỏe
lại và rời bỏ căn nhà đáng ghét này để về lại Lummeridge. Bà Michelson đi cùng
tôi đến London, nơi đây tôi gặp ông Kyrle, Tôi bộc lộ sự hoài nghi về cái chết
của em tôi với ông, Ông rất quan tâm và hứa sẽ mở cuộc điều tra.
Tôi tiếp tục đi đến ngôi nhà
Lummeridge và vài ngày sau ông Kyrle viết thư cho tôi. Ông ta có được bản tường
trình của nhiều nhân chứng, ông ta nói, và tin chắc là không có gì đáng nghi
ngờ về những gì đã xảy ra. Ông ta gửi tôi bản sao của bản tường trình để tôi rõ
thông tin. Đây là một trong những tường
trình của người đầu bếp của ông bá tước, bà Hester Pinhorn như sau:
Gần đây tôi được ông bà bá tước Fosco thuê làm đầu bếp tại số 5 đường
St John’s Wood. Một ngày nọ vào gần cuối tháng bảy, cháu gái của bà bá tước, bà
Glyde đến nhà. Cô ta ngã bệnh ngay tức thì. Tôi thấy cô ta nằm trên trường kỷ,
mặt trắng nhợt. Tôi chạy đi gọi bác sỹ và trở về cùng ông Goodricke. Ông ấy
khám cho cô ta và nói cô ta bị tim rất nặng. Suốt đêm, cô ta càng lúc càng tệ hơn.
Rồi thì khoảng năm giờ ngày hôm sau, cô ấy đã bất tỉnh. Bác sỹ đến và đặt tay
lên tim của cô, thông báo rằng cô đã chết. Ông nói vì bá tước là người ngoại
quốc nên nên đích thân ông ta sẽ làm biên bản về cái chết tại văn phòng quận.
Ông bà bá tước bị ảnh hưởng rất tệ bởi cái chết này. Chồng của bà ấy lại đang ở
nước ngoài vì thế họ tự tổ chức tang lễ ngay Cumberland.
Tôi vẫn còn yếu sau cơn bệnh
dài và tại lúc này đã cận kề tuyệt vọng. Tôi chẳng có bạn bè để xoay sở, chẳng
biết phải làm gì tiếp theo. Hàng ngày tôi đến nghĩa trang, đặt hoa lên mộ và
đọc lại những giòng chữ buồn thảm.
THƯƠNG NHỚ MÃI LAURA, PHU NHÂN
GLYDE
VỢ CỦA NGÀI PERCIVAL GLYDE, Ở
TẠI BLACKWATER HAMPSHIRE.
SINH NGÀY 27 THÁNG BA NĂM 1829
MẤT NGÀY 25 THÁNG BẢY NĂM 1850
(Xem tiếp: Câu chuyện do Hartright kể)
(Xem tiếp: Câu chuyện do Hartright kể)








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét