WOMAN IN WHITE
Tác giả: Wilkie Collins
Dịch: Ngọc Sinh
PHẦN MỘT
CÂU CHUYỆN ĐƯỢC KỂ BỞI WALTER HARTRICK
1
Cuộc gặp gỡ dưới ánh trăng
Vào cuối tháng bảy. Những ngày hè dài nóng nực đã đến lúc kết thúc.Tôi đang cảm thấy mệt mỏi và buồn chán. Tôi cũng đã cạn tiền vì thế đây là dịp tôi lánh xa đường phố London đầy bụi bặm và trải qua một mùa nghỉ thu tiết kiệm tại nhà mẹ tôi.
Mẹ tôi và chị Sarah sống ở một căn nhà nhỏ ở Hampsted, vùng ngoại ô phía bắc, tôi thường ghé thăm họ hai lần một tuần. Chiều nay tôi vừa về tới cổng nhà thì trời cũng vừa sập tối. Trước khi mở cửa, tôi rung mạnh chuông và anh bạn người Ý của tôi, giáo sư Pesca vội vã chạy ra đón tôi.
Pesca là giáo sư về ngôn ngữ, lìa khỏi nước Ý vì những lý do chính trị và lập gia đình ở nước Anh. Anh ta là một người nhỏ bé, dễ kích động và kỳ dị, luôn cố gắng tỏ ra mình là người Anh hơn cả người Anh. Tôi đã gặp anh ta vào một ngày sương muối giăng đầy, khi ấy anh ta đang dạy tiếng Anh. Một ngày nọ tôi gặp anh ta tại Brighton, chúng tôi đồng ý đi bơi biển cùng nhau. Anh ta rất hăng hái và tôi không hề biết anh không biết bơi! Rất may khi anh ta chìm lỉm xuống đáy biển tôi đã có thể lặn xuống cứu anh. Từ ngày ấy, anh ta là người bạn ơn nghĩa của tôi và cũng từ buổi chiều hôm ấy, anh bộc lộ lòng biết ơn theo kiểu của anh mà sau này đã thay đổi cả cuộc đời tôi.
“Nào, bạn thân ơi, tôi có chút tin tuyệt vời cho bạn đây”, anh nói khi chúng tôi đang trong phòng khách của mẹ tôi. Tôi đã nói với ông chủ của tôi giới thiệu một thầy dạy vẽ theo thông báo tuyển người của một gia đình giàu có ở bắc nước Anh. Anh biết tôi đã giới thiệu thế nào không? Đây là người thầy dạy vẽ giỏi nhất thế giới, ông Walter Hartright!
Với tôi, dù rất biết ơn lòng tốt của hắn nhưng tôi vẫn cảm thấy chán nản kỳ lạ. Mặc dù thế, tôi vẫn chân thành cảm ơn hắn và hỏi về những điều kiện yêu cầu. Anh ta cho tôi biết vài điều cần chú ý, ông Frederick Fairlie ở Limmeridge House, Cumberland cần một thầy dạy vẽ để dạy 02 đưa cháu gái của ông trong khoảng thời gian ít nhất là 4 tháng. Thầy giáo ở luôn tại nhà ở Limmeridge như một quý ông và nhận lương 4 bảng một tuần. Những gì trong thư tỏ ra ông ta có cá tính tốt như mong đợi.
Đây hẳn là một vị trí rất hấp dẫn và tôi không thể hiểu nổi tại sao tôi lại thấy ít phấn khởi. Tuy nhiên khi chị và mẹ tôi cho rằng đây là cơ may rất tốt và tôi cũng không muốn làm tổn thương anh bạn Pesca, tôi đã đồng ý nhận việc.
Sáng hôm sau, tôi gửi thư giới thiệu tới giáo sư và 4 ngày sau tôi nghe thấy ông Fairlie đã chấp nhận tuyển dụng và yêu cầu tôi đến Cumberland ngay. Vào xế chiều ngày sau, tôi cuốc bộ tới Hampstead từ giã mẹ với chị Sarah.
Nửa đêm, tôi từ giã họ, một đêm đầy ánh trăng trên bầu trời xanh thẫm không một ánh sao và khí trời nồng ấm. Tôi quyết định đi bộ từ nhà băng qua Hampstead Heath nối với con đường dẫn tới trung tâm. Một lúc sau, tôi đến ngã tư và rẽ qua con đường dẫn tới London. Tôi đang chìm đắm trong suy nghĩ, tự hỏi về hai nhân vật nữ trẻ ở Cumberland thì đột nhiên tim tôi dường như ngừng đập! một bạn tay chạm vào lưng tôi từ phía sau.
Ngay lập tức tôi quay phắt lại, tay nắm chặt cây gậy. Kìa, một phụ nữ như trên trời rơi xuống, mặc đồ trắng từ đầu đến chân. Tôi kinh ngạc đến mức không thốt nên lời.
“Anh không ngờ vực tôi làm điều gì xấu chứ, phải không?”. “Không, không chỉ vì quá đột ngột làm tôi sốc thôi”. Nàng nói “tôi nghe tiếng chân anh đang đi tới, tôi núp sau rặng cây xem anh thuộc hạng người gì trước khi liều nói chuyện với anh. Tôi có thể tin tưởng anh được không?". Cô nhìn tôi chăm chăm với cắp mắt lo âu.
Sự cô độc bơ vơ của nàng biểu hiện rõ đến nỗi tôi thấy cảm thông ngay với nàng. Tôi nói “Nói cho tôi biết tôi có thể giúp gì cho cô, nếu có thể tôi sẽ giúp ngay”.
“Ồ, cám ơn anh quá. Anh thật tử tế". Giọng nàng run rẩy. "Tôi chả biết gì về London cả. Anh có thể chỉ cho tôi không và anh hứa không quấy rầy tôi chứ. Tôi có người bạn ở London sẵn sàng đón tôi. Tôi không mong đợi gì khác. Anh hứa chứ?”.
Nàng nhìn lên xuống con đường một cách căng thẳng rồi quay lại tôi. Sao mà tôi tư chối được chứ? Trông nàng rất bấn loạn và sợ hãi.
"Anh hứa chứ?".
"Vâng".
Chúng tôi cùng nhau đi về hướng London. Thật như một giấc mơ – cùng đi trên con đường quen thuộc với người bạn đường bí hiểm kỳ lạ bên mình.
Đột nhiên nàng hỏi “Anh có biết người đàn ông nào ở phố Baronet London không?".
Có chút dấu hiệu ngờ vực trong câu hỏi kỳ lạ này và khi tôi trả lời tôi không biết phố Baronet thì nàng có vẻ bớt căng thẳng. Tôi hỏi nàng rõ hơn và nàng thì thầm cho biết nàng đã từng bị một gã Nam tước đối xử tàn bạo nhưng nàng không nói tên. Nàng nói nàng đến từ Hampshire và hỏi có phải tôi sống ở London không. Tôi trả lời đúng vậy nhưng tôi sẽ tới cumberland vào ngày mốt.
“Cumberland a”. Nàng khẽ khàng lập lại. “À! Tôi mong tôi cũng sẽ tới đó. Tôi đã từng được sống yên ấm ở làng Limmeridge, Cumberland. Tôi rất thích được thấy lại Limmeridge House lần nữa”.
Limmeridge House! Tôi dừng lại, ngạc nhiên.
“Có gì không ổn ư?”. Nàng hỏi một cách lo lắng. "Anh nghe thấy tiếng ai kêu chúng ta ư?”.
“Không, không, Tôi chỉ thực ngạc nhiên nghe tên Limmeridge House thôi. Cô có biết ai ở đó không?”.
“Tôi có biết một người”, nàng đáp. “Nhưng bà Fairlie đã chết, chồng bà cũng đã chết; con gái của họ cũng đã lấy chồng và đi khỏi nơi ấy.
Có lẽ nàng muốn kể cho tôi nhiều hơn nhưng ngay lúc đó chúng tôi thấy một chiếc xe ngựa. Tôi chặn xe và nàng nhanh chóng lên xe.
Tôi nói “Để tôi đưa cô tới nhà bạn cô an toàn nhé”.
Nàng kêu lên “Không, không, tôi luôn an toàn mà, anh cứ để mặc tôi. Anh nhớ giữ lời hứa nhé. Cám ơn anh nhiều lắm”.
Nàng nắm chặt và hôn lên tay tôi và đẩy ra. Chiếc xe ngựa biến vào bóng đêm dày đặc trên con đường – và người đàn bà mặc đồ trắng đã khuất dạng.
Mười phút sau tôi vẫn còn trên con đường, tôi đang băn khoăn suy nghĩ về chuyến đi thì chợt nghe thấy tiểng bánh xe sau lưng. Một chiếc xe ngựa mui trần cùng hai người đàn ông băng qua mặt tôi và ngừng lại khi thấy có một cảnh sát đang đi ở cuối phố.
“Ngài sĩ quan”. Một trong hai người kêu “Ngài có thấy người đàn bà nào đi qua đây không ạ? Người đàn bà mặc đồ trắng”.
“Không thưa các ông”, sao thế, Bà ta đã làm gì à?”.
“Vâng, Bà ta vừa trốn khỏi Nhà thương điên”.
“Nhà thương điên! Nhưng đối với tôi người đàn bà này chả có vẻ gì là tâm thần cả. Chỉ có chút kỳ lạ và bồn chồn thôi chứ không điên loạn. Tôi đã làm gì vậy? Phải chăng tôi đã sai lầm giúp người đàn bà đang bị giam giữ đào thoát? Những ý nghĩ xáo trộn này bám theo tôi suốt đêm khi tôi trở về phòng; cuối cùng thì cũng đến lúc rời London đi Cumberland.
***
Theo chỉ dẫn, chuyến đi của tôi đến Carlisle sẽ chuyển chuyến tàu để đến Limmeridge. Tuy nhiên do phải trì hoãn rất lâu nên tôi đã lỡ nối chuyến và không tới kịp Limmeridge mãi đến quá 10 giờ. Một gã gia nhân cọc cằn đang đợi tôi ở sân ga cùng chiếc xe ngựa và khi tôi đến Limmeridge House mọi người đã đi ngủ. Tôi được đưa về phòng của mình rồi thì tôi thắp nến lên, tự nghĩ. Đêm nay tôi sẽ mơ thấy gì nhỉ? Người đàn bà mặc đồ trắng hay những người không quen biết của ngôi nhà Cumberland này?
2
Cuộc sống ở Limmeridge House
Sáng hôm sau khi thức dậy, ánh dương tươi sáng và cảnh biển xanh biếc ngoài cửa sổ đón chào tôi. Tương lai có vẻ đột nhiên đầy hứa hẹn. Tôi tìm đường xuống phòng ăn sáng và tại đây một phụ nữ trẻ vóc người rất hoàn hảo đang nhìn ra ngoài cửa sổ quay lưng về phía tôi. Nhưng khi cô ta quay lại và đi về phía tôi, tôi ngạc nhiên thấy một khuôn mặt xấu xí. Râu mọc trên mép, mồm thì rộng oác và thô cứng. Khuôn mặt y như thể đàn ông nhưng nụ cười rất thân thiện làm cho cô có vẻ nữ tính hơn. Cô chào tôi với giọng nói thanh tao và có giáo dục và tự giới thiệu cô là Marian Halcombe, chị em cùng mẹ khác cha với cô Fairlie.
“Mẹ tôi kết hôn hai lần”. Cô giải thích một cách nhẹ nhàng, thân thiện. “Lần thứ nhất với ông Halcome, là bố tôi và lần thứ hai với ông Fairlie, bố của em gái tôi. Bố tôi nghèo lắm còn bố của Fairlie thì lại giàu có. Tôi chả có gì cả còn cô ấy thì giàu có. Tôi thì đen đúa xấu xí còn cô ấy thì xinh đẹp lắm”. Cô ta nói tất cả những điều đó một cách hoàn toàn vui vẻ. “Hai chị em tôi thương yêu nhau lắm nên ông Hartright ạ, hoặc là ông phải vui lòng với cả hai chúng tôi hoặc là phải ghét cả hai”.
Sau đó cô nói sáng nay cô Farlie bị nhức đầu đang được bà Vesey, một phụ nữ luống tuổi, đã từng là gia sư, chăm sóc cho gia đình.
"Vì vậy chỉ có chúng ta dùng bữa sáng thôi ông Hartright ạ”, cô nói “Còn ông Fairlie, ông chủ của anh ấy, thì chắc chắn anh sẽ gặp rất muộn. Ông ấy là chú của Farlie, một người độc thân, khi bố mẹ của Farlie mất hết, ông ấy trở thành người giám hộ của Farlie. Ông ấy khốn khổ vì căn bệnh bí hiểm gì đó về thần kinh và chẳng bao giờ rời khỏi phòng”.
Trong lúc ăn sáng, cô ta lặng lẽ mô tả cuộc sống hàng ngày của chị em cô. “Anh có nghĩ là sẽ quen với kiểu sống này không? Cô nói “Hay anh không thấy thoải mà và sẽ mong muốn lại phiêu lưu tiếp?
Nghe thấy từ “phiêu lưu” nhắc tôi nhớ lại người đàn bà mặc đồ trắng và những lời nàng kể về Fairlie. Tôi kể cho cô Halcombe tất cả cuộc du hành của tôi vừa rồi, cô nghe rất chăm chú, đặc biệt những gì đề cập tới mẹ của cô.
“Nhưng anh không biết tên cô ta phải không?”, nàng nói.
“E rằng không, chỉ biết rằng cô ta đi tới Hampshire”.
“Tôi sẽ bỏ cả sáng nay”, cô nói “để lục tìm thư của mẹ tôi. Tôi chắc sẽ tìm ra chìa khóa giải thích điều bí mật này. Bữa trưa bắt đầu vào lúc 2 giờ nhé anh Hartright, tôi sẽ giới thiệu anh với với em gái tôi”.
Sau bữa điểm tâm, gia nhân riêng của ông Fairlie, Louis, bảo tôi ông Fairlie muốn gặp tôi. Tôi theo gia nhân lên cầu thang và được thấy một căn phòng rộng đầy những đồ trang trí nghệ thuật quý giá. Nơi đây, ngồi trong chiếc ghế bành, một người đàn ông nhỏ nhắn, xanh xao, thanh nhã khoảng năm mươi tuổi, ông ta có vẻ gì đó không hấp dẫn lắm.
“Rất vui ông đã có mặt ở đây, ông Hartright”, ông nói với một giọng the thé, rền rỉ. “Vui lòng ngồi xuống nhưng đừng dịch chuyển cái ghế. Cái bệnh thần kinh của tôi thì bất kỳ cái gì di chuyển cũng làm tôi đau nhức. Xin hỏi ông có thấy thoải mái với những gì ở Limmeridge đây không?".
Tôi vừa trả lời ông đã xua tay ngăn lại.
“Xin lỗi, ông có thể nói nhỏ hơn không? Đơn giản là vì tôi không chịu được tiếng nói hay âm thanh lớn".
Cuộc phỏng vấn không kéo dài, ông Fairlie nhanh chóng không quan tâm nữa. Ông thông tin cho tôi biết các tiểu thư đã chuẩn bị sẵn sàng học vẽ. “Với bệnh tình như tôi, tôi đã cố gắng hết sức rồi", ông nói “Ông rung chông gọi Louis nhé, cám ơn ông, chào ông”.
Tôi rời căn phòng một cách nhẹ nhõm, bỏ thời gian thử thách buổi sáng, chờ tới bữa trưa khi tôi được giới thiệu với cô Fairlie.
Vào lúc 2 giờ, tôi vào phòng ăn và gặp cô Halcombe ngồi nơi bàn với bà to béo cười suốt buổi. Tôi nhận ra đây là bà Vesey. Chúng tôi bắt đầu ăn và trước khi bữa ăn kết thúc cũng chẳng thấy cô Fairlie đâu cả. Halcombe để ý thấy tôi nhiều lần liếc mắt về phía cánh cửa, nên cô nói “Tôi hiểu anh Hartright, anh đang tự hỏi về cô học trò của anh. Được, tôi nghĩ là tôi sẽ kiếm thấy em đâu đó ngoài vườn”.
Làm sao tôi có thể miêu tả được nàng? Làm sao tôi có thể tách riêng khoảng khắc này khỏi mọi điều đã xảy ra từ đó. Sau đó, tôi dã vẽ một bức họa nàng xuất hiện như một tia sáng, một dáng hình trẻ trung khoác trên người chiếc váy trắng sọc xanh và chiếc mũ mùa hè. Tóc nàng màu nâu sáng, giống như ánh kim; đôi mắt trong xanh đầy vẻ trung thực. Khuôn mặt nàng thật quyến rũ, thật khó tách bạch từng nét riêng biệt.
Ấn tượng của tôi là thế nhưng đồng thời tôi cũng cảm thấy có vài điều tôi không thể giải thích – một điều gì đó tôi nên nhớ nhưng lại không thể. Thực tế tôi đang nghĩ về diều này rất nhiều đến nỗi rất khó khăn đáp lời khi nàng chào tôi.
Cô Halcombe tin rằng tôi mắc cở, nhanh nhẩu nói “Nhìn cô học trò hoàn hảo của anh nè” và cô chỉ vào bức phác thảo “Em ấy đã bắt đầu làm việc trước khi anh bắt đầu bài học. Em phải cho ông Hartright xem hết các bức họa của em đi Laura, rồi thì chúng ta đánh xe đi dạo chơi”.
Laura tươi cười rất vui.
“Em mong anh ấy sẽ cho chúng ta quan điểm thực sự của mình chứ không nói để làm vừa lòng em”, nàng nói.
“Xin hỏi vì sao cô nói như thế”, tôi nói.
“Bởi vì em sẽ tin tất cả những gì anh nói”, nàng trả lời một cách đơn giản.
Chỉ vài lời ít ỏi nàng đã cho tôi hiểu em đáng tin cậy, trung thực.
Sau đó chúng tôi đánh xe đi dạo như đã hứa nhưng tôi phải thú nhận là tôi quan tâm đến Fairlie hơn các bức phác thảo của nàng. Chẳng bao lâu tôi nhận ra tôi thích là bạn hơn là thầy nàng và khi trở lại với vai trò của mình, tôi cảm thấy thật không dễ dàng và thoải mái với chính mình.
Vào bữa tối của buổi chiều hôm ấy, những cảm giác ấy mau chóng tan biến và khi bữa ăn kết thúc, chúng tôi vào phòng khách có cửa kính nhìn ra vườn. Bà Vesey ngủ gà gật trên ghế bành còn cô Halcombe ngồi gần bên cửa sổ đọc những lá thư của mẹ. Theo yêu cầu của tôi, Fairlie chơi piano.
Làm sao tôi có thể quên được bức tranh yên lành như thế? Những bông hoa nở ra từ nhạc của Mozart. Cô Halcombe đọc thư dưới ánh sáng mờ ảo và khuôn mặt thanh tú của Fairlie nổi bật trên bức tường thẫm tối. Một hình ảnh và âm thanh đáng nhớ mãi mãi.
Sau đó khi Laura kết thúc chơi đàn và thơ thần ngoài vườn, Halcombe kêu tôi.
“Anh Hartright, lại đây một chút”.
Tôi bước lại và cô đưa cho tôi xem lá thư.
"Lá thư này mẹ tôi gửi cho cha dượng tôi 12 năm trước. Bà có đề cập đến một phụ nữ có tên là Catherick, bà này chăm sóc cho bà chị của mẹ tôi bị bệnh ở làng. Hình như bà ta có dẫn theo đưa con gái nhỏ tên là Anne, lớn hơn Laura khoảng một tuổi. Lúc này tôi đang đi học ở Paris. Mẹ tôi rất quan tâm đến việc dạy dỗ của trường làng, cho rằng cô bé sẽ bị học chậm nên bà gửi bài vở ở đây cho cô bé. Bà cũng cho cô bé những chiếc váy trắng của Laura, với cả mũ trắng nữa, bà nói màu trắng hợp với cô bé hơn các màu khác. Bà nói rằng cô bé Anne Catherick rất biết ơn và yêu mến bà, có lần cô bé hôn lên tay bà và nói : khi nào còn sống cháu sẽ luôn mặc đồ trắng. Nó giúp cháu nhớ đến bà”.
Cô Halcombe dừng lại nhìn tôi.
"Người phụ nữ anh gặp đêm đó hình như khoảng 22 hay 23 tuổi phải không?".
“Phải Halcombe, cô ta cỡ độ 22-23 gì đó”.
“Và mặc đồ trắng từ đầu tới chân?”.
"Toàn bộ đều trắng".
Từ nơi tôi ngồi, tôi có thể thấy Fairlie đi dạo trong vườn và bộ váy trắng của của nàng dưới ánh trăng đột nhiên làm tim tôi đập mạnh hơn.
“Giờ thì nghe những gì mẹ tôi nói ở cuối thư đây”, Halcombe tiếp tục “Ông sẽ ngạc nhiên đây. Bà nói hẳn phải có lý do thực sự nào nên cô bé Anne Catherick mới có sở thích giống bà như thế”.
Trước khi cô kết thúc, tôi nhổm người lên. Fairlie đứng ngoài kia một mình, bóng dáng trắng ngần dưới ánh trăng. Và đột nhiên tôi nhận ra điều gì tôi đã không thể nhớ - đó là sự giống nhau lạ thường giữa Laura Fairlie và người đàn bà mặc đồ trắng trốn khỏi Nhà thương điên.
“Ông thấy đó”, cô Halcombe nói “Hệt như mẹ tôi cũng đã thấy sự giống nhau từ nhiều năm trước”.
“Vâng phải”, tôi đáp nhưng rất không vui. Việc liên tưởng người đàn bà cô đơn không bạn bè, kể cả chỉ là ngẫu nhiên giống nhau, với Fairlie làm tôi bối rối lắm. Tôi không muốn nghĩ về điều này. "Vui lòng kêu cô ta vào đừng đứng dưới ánh trăng khủng khiếp đó”, tôi nói.
“Chúng ta sẽ không nói gì về sự giống nhau với Laura nhé”, cô nói, “Đây là bí mật của tôi với anh thôi”. Sau đó, cô kêu Laura vào và nói Laura chơi piano lần nữa; và với tôi, một ngày đầy sự kiện ở Limmerridge House đã đến lúc kết thúc.
“***
Ngày ngày, tuần tuần trôi qua và mùa hè đã chuyển sang mùa thu vàng. Một khoảng khắc thanh bình, vui vẻ nhưng rồi cuối cùng tôi phải thú nhận cảm giác thực sự của mình với Fairlie.
Tôi đã yêu nàng.
Mỗi ngày tôi bên nàng trong sự gần gũi nguy hiểm tồn tại giữa thầy trò. Thường khi chúng tôi cúi đầu bên trang sách vẽ của nàng, tay và mặt chúng tôi hầu như chạm vào nhau. Tôi hít thở hương thơm từ tóc nàng. Lẽ ra tôi nên giữ khoảng cách nghề nghiệp với nàng như tôi vẫn giữ với học trò trước đây nhưng tôi không giữ được, quá trễ mất rồi.
Vào tháng thứ ba tôi ở tại Cumberland, tôi đã lạc lối trong tình yêu và mù quáng với những nguy hiểm phía trước. Rồi thì sự cảnh báo đầu tiên đã đến - từ nàng. Trong khoảng không gian một đêm nọ, nàng đã thay đổi với tôi. Đột nhiên có một khoảng cách ray rứt, một biểu hiện buồn rầu trong thái độ của nàng. Nỗi đau đớn tôi cảm nhận vào lúc này không thể tả nổi. Nhưng rồi tôi hiểu rằng nàng đã thay đổi vì nàng đã nhận ra không chỉ cảm tình của tôi mà cả của nàng đã quá lớn. Sự thay đổi này cũng được phản ánh ở cô Halcombe, thường không nói điều gì với tôi, nhưng lại sinh ra thói quen mới là luôn luôn nhìn tôi. Tình trạng mới và đáng sợ này tiếp diễn nhiều lần cho đến vào ngày thứ năm gần cuối tháng thứ ba, cuối cùng thì tôi cũng đã được giải thoát bởi Halcombe rất nhạy cảm và mạnh dạn.
“Anh giành cho tôi chút thời gian được không? Chúng ta ra vườn nhé”, cô nói sau bữa điểm tâm.
Chúng tôi đi tới căn nhà mùa hè và đi vào bên trong. Halcombe quay về phía tôi. "Anh Hartright, những gì phải nói với anh tôi có thể nói ở đây. Nào, tôi biết anh là người tốt và cư xử rất đúng mực. Câu chuyện của anh về người đàn bà bất hạnh ở London đã chứng minh điều đó. Là bạn anh, tôi phải nói với anh rằng tôi đã khám phá thấy tình cảm của anh với em gái tôi, Laura. Mặc dù anh đã không làm điều gì sai quấy, ngoại trừ để lộ sự mềm yếu, tôi phải nói là anh cần rời Limmeridge House trước khi điều tồi tệ xảy ra. Và ngoài ra tôi phải nói điều này cũng sẽ làm anh đau đớn. Trước tiên, anh hãy bắt tay với người bạn của anh, Marian Halcombe này nhé".
Cô nói năng tử tế đến nỗi tôi nắm lấy tay cô.
"Anh phải ra đi vì Laura Fairlie sắp kết hôn’.
“Những từ cuối cùng như viên đạn bắn vào tim tôi. Tôi trở nên trắng bệch và cảm thấy lạnh toát. Chỉ với một từ đã làm mọi hy vọng của tôi tan biến.
“Anh phải kết thúc tình cảm của anh thôi, ngay đây, nơi lần đầu tiên anh gặp em nó. Tôi sẽ dấu mọi thứ về anh. Em không kết hôn vì tình yêu mà vì lời hứa của em với cha trước khi ông ấy mất. Người mà em cưới sẽ tới đây vào thứ hai tới”.
“Tôi sẽ ra đi ngay hôm nay”, tôi đau đớn nói. Càng sớm càng tốt.
“Đừng, không phải là hôm nay. Như thế sẽ rất bất thường. Hãy đợi đến ngày mai, khi thư từ được đưa đến. Anh hãy nói với ông Fairlie là anh nhận được tin xấu và phải trở về London".
“Tôi sẽ làm theo lời khuyên của cô, cô Halcombe”, tôi buồn rầu nói, “Nhưng tôi có thể hỏi người đính hôn là ai không?”.
“Một người giàu có ở Hampshire”.
Hampshire! Một lần nữa lại có sự liên kết với Anne Catherick!
“Tên ông ta?”, tôi hỏi một cách bình tĩnh nhất có thể được.
“Ngài Percival Glyde”.
Ngài! Tôi nhớ lại câu hỏi đầy nghi ngờ của Anne Catherick về phố những ông Nam tước và tôi chợt hơi cao giọng khi hỏi “Có phải ông ấy là Nam tước không?”.
Cô ta sững lại một chút rồi trả lời “Đúng, một Nam tước”.
3
Lá thư không ký
Sáng hôm sau, khi ngồi một mình trong phòng, nhiều ý nghĩ bao quanh tôi. Chẳng có lý do gì để tôi liên kết ngài Percivay Glyde với người đàn ông đã làm Anne Catherick sợ hãi – nhưng tôi vẫn nghĩ thế. Sự đau khổ của tôi quá lớn nhưng dù thế cảm giác về điều gì đó rất kinh khủng còn lớn hơn, mối nguy hiểm vô hình lơ lửng trên đầu chúng tối. Sau đó tôi nghe tiếng gõ cửa, đó là cô Halcombe.
Cô đưa tôi một lá thư không có ký tên, viết:
"Cô có tin vào những giấc mơ không cô Fairlie? Đêm qua tôi thấy cô mặc váy cưới trắng trong nhà thờ, rất đẹp, rất ngây thơ. Đứng bên cô là người đàn ông có vết sẹo trên tay phải – một người đàn ông đẹp trai nhưng là một gã hắc ám, độc ác đã mang lại khốn khổ cho nhiều người và sẽ mang sự khốn nạn đến cho cô, cô Fairlie, trước khi cô cưới gã. Tôi xin cố lưu ý cho là mẹ cô là người bạn đầu tiên và thân thiết duy nhất của tôi".
“Tôi nghĩ lá thư này là của một phụ nữ”, Halcombe nói, “Chắc chắn là muốn nói đến ngài Percival – tôi nhớ vết sẹo đó. Tôi nên làm gì đây ông Hartright? Bí mật này phải được giải quyết. Ngài Gilmore đang thảo luận về nhưng chi tiết về tài chính của đám cưới Fairlie và ngài Percival sẽ tới đây vào thứ hai để xác định ngày cưới – mặc dầu Fairlie chưa biết gì cả".
Hẹn ngày cưới! những từ này nhấn chìm tôi trong nỗi thất vọng. Có lẽ có có vài sự thật trong lá thư. Nếu tôi có thể tìm ra người viết, có lẽ tôi sẽ tìm ra cách nào đó để chứng minh rằng ngài Percival Glyde không phải là người lương thiện như vẻ bề ngoài.
“Tôi nghĩ tôi sẽ điều tra ngay lập tức”, tôi nói “Càng để lâu càng khó khăn để phát hiện mọi việc”.
Tôi hỏi các gia nhân và được biết lá thư do môt phụ nũ lớn tuổi mang đến và đã đi khỏi theo hướng vào làng. Dân ở Limmeridge nhớ đã từng thấy người phụ nữ này nhưng không ai có thể nói cho chúng tôi biết cô ta là ai hoặc cô ta từ đâu đến. Cuối cùng tôi đề nghị hỏi thầy giáo làng. Khi chúng tôi đến cổng trường thì nghe thầy giáo đang la mắng một trong những cậu bé, ông giận dữ nói rằng chẳng có cái thứ gì gọi là ma cả. Có chút lúng túng nhưng chúng tôi vẫn hỏi thầy. Ông thầy chẳng nói cho chúng tôi gì cả. Tuy nhiên, khi quay trở ra, cô Halcombe nói với cậu bé đứng ở góc phòng:
“Cậu là cậu bé bị la vì nói về chuyện ma quỷ gì đó phải không?”.
“Vâng thưa cô, Nhưng mà cháu có thấy một con ma thật mà! Hôm qua cháu đã thấy trong nghĩa địa, con ma đó là bà Fairlie!”.
Câu trả lời của cậu bé gây sốc ngay cho Halcombe và ông thầy ngay lập tức bước lại giải thích rằng thằng bé ngu ngốc này nói là nó đã thấy (hoặc có lẽ là tưởng tượng) một người đàn bà mặc đồ trắng đứng bên cạnh ngôi mộ của bà Fairlie khi nó di ngang qua nghĩa địa chiều qua. Chỉ có thể thôi chứ chả có gì hơn.
"Anh nghĩ sao anh Hartright?”, Halcombe hỏi tôi khi chúng tôi ra khỏi trường.
“Cậu bé đã thấy một ai đó", tôi nói “Nhưng không phải là ma. Tôi nghĩ chúng ta nên kiểm tra ngôi mộ. Tôi có nghi ngờ thế này cô Halcombe, người viết lá thư và con ma tưởng tượng ở nghĩa địa có lẽ là một”.
Cô ta dừng lại, trở nên tái xanh, nhìn vào tôi. “Người gì cơ?”.
“Là Anne Catherick”, tôi trả lời “Người đàn bà mặc đồ trắng”.
"Tôi không hiểu vì sao nhưng sự nghi ngờ của anh làm tôi sợ quá”, cô nói một cách chậm chạp “Tôi sẽ chỉ cho ông ngôi mộ rồi tôi phải trở về với Laura thôi”. Chúng ta gặp nhau ở nhà sau nhé. Tại nghĩa địa tôi kiểm tra rất kỹ ngôi mộ của bà Fairlie và nhận ra rằng một phần của ngôi mộ đá này được lau chùi sạch sẽ. Có lẽ người lau dọn này sẽ trở lại hoàn tất công việc. Tôi quyết định sẽ quay trở lại ngôi mộ và chờ đợi và chiều tối. Quay về nhà, tôi giải thích kế hoạch của tôi cho cô Halcombe, cô dường như không thoải mái lắm nhưng không phản đối gì. Vì vậy, khi ánh dương mờ khuất, tôi đi tới nghĩa địa, chọn vị trí và chờ đợi.
Khoảng độ nửa tiếng sau, tôi nghe tiếng bước chân. Rồi sau đó hai người đàn bà băng qua trước mặt tôi, tiến tới ngôi mộ. Một người mặc áo choàng với mũ chùm đầu che khuất khuôn mặt, phía dưới áo choàng lộ ra một phần váy – một chiếc váy trắng. Người phụ nữ kia nói gì đó với người đồng hành và sau đó đi vòng qua qua góc nhà thờ, bỏ lại người phụ nữ mặc áo choàng bên ngôi mộ. Sau khi nhìn xung quanh, cô ta lấy ra một mảnh giẻ, hôn lên cây thánh giá trắng và bắt đầu lau chùi ngôi mộ.
Tôi từ từ và cẩn thận tiến tới cô ta nhưng khi cô ta thấy tôi, cô giật bắn người và kinh hoàng nhìn tôi.
Trước mặt tôi, là khuôn mặt của người phụ nữ mặc đồ trắng.
“Đừng sợ”, tôi nói "Chắc chắn là cô nhớ tôi". Đôi mắt cô nhìn kỹ trên mặt tôi. “Tôi đã chỉ đường đi London giúp cô”, tôi tiếp tục “Chắc chắn là cô không quên chứ?”.
Khuôn mặt cô thư thái hẳn khi cô nhận ra tôi và cô đã thở phào nhẹ nhõm. Trước đó, tôi nhận thấy cô giống hệt tiểu thư Fairlie. Giờ thì tôi lại thấy tiểu thư Fairlie giống hệt cô. Ngoại trừ khuôn mặt mệt mỏi của cô có mất đi dáng vẻ đẹp thanh tú như của Fairlie và tôi không thể không nghĩ rằng nếu nỗi sầu đau và khốn khổ đổ xuống tiểu thư Fairlie thì sẽ, chỉ là thì sẽ, hai người hẳn hệt nhau như tấm gương phản chiếu nhau. Thật là một suy nghĩ điên rồ.
Tôi bắt đầu dịu dàng hỏi cô. Tôi nói cho cô rằng tôi đã biết cô đào thoát ra khỏi Nhà thương điên và rằng tôi rất vui lòng vì đã giúp đỡ cô nhưng tôi muốn biết có đúng là cô tìm người bạn ở London vào đêm đó.
“Đúng vậy. Đó là bà Clements người cùng tới đây với tôi. Bà là láng giềng của tôi ở Hampshire và là người đã chăm sóc tôi khi tôi còn bé. Bà luôn là người bạn của tôi".
“Thế cô không có cha hay mẹ chăm sóc sao?”.
“Tôi chưa bao giờ thấy cha – tôi chưa bao giờ nghe mẹ nói về ông ấy. Và tôi cũng chẳng nhận được điều gì tốt lành từ bà. Tôi chỉ được khá hơn khi ở cùng bà Clements, bà là người tốt".
Tôi được biết cô đã ở cùng họ hàng bà Clements ở trang trại cách làng 3 dặm nhưng có một câu hỏi khác khó hơn tôi muốn hỏi. Ai là người tống cô vào Nhà thương điên? Có lẽ là người mẹ không đàng hoàng. "Cô viết thư cho Fairlie tố cáo ngài Percival Clyde với động cơ gì? Có phải là sự trả thù? Ngài Percival đã làm điều gì xấu với cô?".
Cô nhanh chóng trở nên hoảng sợ, bối rối và lúc này cô như chỉ giữ một ý tưởng trong đầu. Tôi cố gắng không làm cô lo âu. Tôi hỏi “Cô đã bao giờ bị đàn ông xử tệ và bỏ rơi chưa?”. Khuôn mặt bối rối, vô tội của cô nói cho tôi biết rằng sẽ không có câu trả lời.
Trong suốt thời gian trao đổi với nhau cô lau chùi sạch ngôi mộ.
“Bà Fairlie là người bạn tốt nhất của tôi”, cô thầm thì “và con gái của bà...”, cô nhìn vào tôi và quay đi như thể muốn dấu đi khuôn mặt tội lỗi, “Cô Fairlie rất tốt và vui tính phải không?”, cô thì thào một cách âu lo.
“Cô không đề cập gì đến những cái tên trong thư của cô nhưng cô Fairlie người mà cô mô tả là ngài Percival Glyde".
Khoảng khắc tôi nói ra cái tên cô bật ra tiếng kêu kinh khủng đến nỗi máu tôi như đông cứng lại. Mặt cô giờ tràn ngập vẻ hoảng sợ và căm thù, cô kể cho tôi mọi chuyện. Không còn nghi ngờ gì nữa, người tống cô vào Nhà thương điên chính là ngài Percival Glyde.
Ngay khi cô thét lên hãi hùng, bà Clements chạy lại và nhìn tôi với vẻ căm giận, “Cái gì thế này, cháu yêu? Ông này đã làm gì cháu?”.
“Không có gì đâu”, cô gái đáng thương nói “Có lần ông ấy đã rất tốt với cháu. Ông ấy giúp cháu...”, cô thì thầm bên tai trấn an bà ta.
Bà Clements quàng tay quanh cô Anne Catherick và dẫn cô đi. Tôi nhìn họ bước đi cảm thấy thương xót cho cô gái bất hạnh mặt mày tái xanh, sợ hãi.
Nửa tiếng sau, tôi quay về nhà và câu chuyện tôi kể lại cho cô Halcombe đã làm cô ấy rất lo lắng.
"Tôi chắc ông Percival đã đưa Anne Catherick vào Nhà thương điên", tôi nói "Nhưng vì sao chứ? Họ có mối liên hệ gì với nhau?".
“Chúng ta phải tìm hiểu ngay", Halcombe nói, “Ngày mai chúng ta tới trang trại và chính tôi sẽ nói chuyện với cô Anne Catherick”.
***
Việc đầu tiên tôi phải làm vào sáng hôm sau là hỏi ông Fairlie liệu tôi có thể nghỉ việc sớm hơn một tháng không. Vì thần kinh ông cực kỳ tồi tệ, tôi không thể nói chuyện trực tiếp với ông mà chỉ viết một bức thư ngắn giải thích rằng do nhận được tin tức không trông đợi buộc tôi phải về London. Tôi nhận được lá thư phản hồiđầy khó chịu của ông thông báo rằng tôi có thể đi. Một lần nữa lại là một lá thư gây cho tôi buồn phiền rất nhiều. Thôi, tôi không quan tâm nữa.
Sau đó, cô Halcombe và tôi đi tới trang trại, cô Halcombe đi vào bên trong, tôi đợi ở gần đó. Rất ngạc nhiên, cô quay trở lại chỉ sau vài phút.
“Anne Catherick từ chối tiếp cô à?” , tôi hỏi.
“Anne Catherick đã đi khỏi”, Halcombe trả lời “Cô ấy đã ra đi hồi sáng nay với bà Clements. Vợ ông chủ trại, bà Todd, chẳng biết vì sao họ ra đi hoặc là họ đi đâu. Bà ta nói rằng Anne Catherick bị bối rối căng thẳng sau khi đọc gì đó trên báo địa phương cách đây đôi ngày. Tôi nhìn tờ báo và thấy có đăng tin đám cưới tương lai của Laura. Sau đó bà Todd nói rằng đêm hôm sau Anne đờ đẫn có vẻ như bị sốc về điều gì đó do một tớ gái của nhà chúng tôi đề cập đến khi viếng thăm trang trại vào xế chiều.
Chúng tôi vội vã trở về để hỏi người tớ gái. Cô Halcombe hỏi cô ta gái lúc ở trang trại, có nói gì đến tên của ngài Percival Glyde không. “Ô, vâng có”, cô tớ gái trả lời “Tôi nói ông ta sẽ đến vào thứ hai”.
Ngay lúc đó, xe khách đã đến và ông Gilmore, người bạn của gia đình và cũng là cố vấn pháp luật, bước vào. Ông ta đã đứng tuổi, dáng vẻ hòa nhã, ăn mặc chỉnh tề. Cô Halcombe giới thiệu tôi và đi vào việc thảo luận việc nhà với ông ta. Tôi rảo bước ra vườn. Thời khắc cuối cùng của tôi ở Limmerridge đã gần như kết thúc và tôi muốn nói lời từ giã tới những nơi tôi thường cùng dạo bước với Fairlie trong thời khắc hạnh phúc thơ mộng của tình yêu của tôi. Những ngày thu xám xịt, ẩm ướt và ký ức vàng ấy mờ nhạt dần.
Tôi trở vào nhà, gặp ông Gilmore.
“A, ông Hartright, ông ta nói “Cô Halcombe đã cho tôi biết ông đã tận tình giúp đỡ về lá thư kỳ lạ gửi cho cô Fairlie. Tôi muốn ông biết rằng việc điều tra giờ trong tay tôi. Tôi đã viết thư cho luật sư của ngài Percival Glyde ở London và chắc chắn chúng ta sẽ nhận được lời giải thích thỏa đáng”.
“Tôi e rằng tôi không thấy chắc chắn như ông”, tôi trả lời.
“Được, được”, ông Gilmore nói “Chúng ta sẽ đợi những sự kiện”.
Bữa tối hôm đó - bữa tối cuối cùng ở nhà Limmerridge- thật sự là một cuộc đấu tranh để tự kiềm chế mình. Tôi thấy cô Fairlie cũng thế. Cô đưa tay cho tôi nắm như những ngày hạnh phúc vừa qua nhưng bàn tay cô run rẩy và gương mặt trắng bệch. Ông Gilmore vẫn nói chuyện và sau đó chúng tôi vào phòng khách như thường lệ. Cô Fairlie ngồi xuống chơi piano.
“ Tôi chơi một số đoạn của Mozart mà anh thích. Anh ngôi vào chỗ cũ bên tôi nhé?”, nàng nói một cách sầu muộn.
“Xin vâng, đêm cuối cùng mà”. Tôi trả lời.
“Tôi rất buồn việc anh ra đi”.
“Tôi sẽ mãi nhớ mãi nhữngnhưng lời tốt đẹp này, cô Fairlie, mãi nhớ mai này tôi rời khỏi đây tôi luôn nhớ mãi ”. Tôi đáp lời.
“Đừng nói về ngày mai nữa”.
Sau đó cô chơi đàn, rồi thì cuối cùng đến lúc nói lời từ biệt.
Sáng hôm sau tôi thấy cô Halcombe và Fairlie đợi tôi ở dưới cầu thang. Khi tôi bắt đầu nói, Fairlie quay đi và chạy vội về phòng. Tôi cố giữ giọng nói của mình bình thường nhưng chỉ có thể nói ”Cô sẽ viết thư cho tôi chứ, Halcombe?”.
Cô nắm lấy đôi tay tôi và khuôn mặt cô trở nên xinh đẹp đầy xúc động và cởi mở. “Tất nhiên rồi, anh Walter, tạm biệt và cầu chúa phù hộ cho anh!”.
Cô ra khói và vài giây sau cô Fairlie quay lại, cầm theo vật gì đó. Đó là bức phác thảo về ngôi nhà mùa hè nơi lần đầu chúng tôi gặp nhau. Nước mắt tuôn rơi cô đưa bức tranh cho tôi “Để nhớ anh mãi mãi”, cô nói khẽ. Nước mắt tôi rơi trên bàn tay cố khi tôi hôn chúng, sau đó tôi quay bước ra đi. Cô ngồi sụp vào ghế gục đầu vào đôi tay. Lúc này, tôi biết nàng cũng yêu tôi. Nhưng tất cả đã không còn. Chúng tôi đã chia lìa.
(Xem tiếp : Câu chuyện do Halcombe kể)
(Xem tiếp : Câu chuyện do Halcombe kể)

cảm ơn anh đã dịch. Tác phẩm này quá nổi tiếng <3
Trả lờiXóa